Tuyển dụng, bổ nhiệm giáo sư: Kinh nghiệm của Úc và các nước phát triển

GS. Nguyễn Xuân Thu

Nguyên Giáo sư Đại học RMIT Melbourne

Gần đây trên các phương tiện truyền thông đại chúng và mạng xã hội tại Việt Nam nổi lên làn sóng tranh luận về việc các trường Đại học Việt Nam có nên được phép thành lập các Hội đồng bổ nhiệm chức danh giáo sư, phó giáo sư hay đó là công việc của Hội đồng Chức danh Giáo sư Nhà nước. Trung tâm Nghiên cứu Giáo dục đại học xin giới thiệu bài viết của GS. Nguyễn Xuân Thu, nguyên Giáo sư Đại học RMIT Melbourne về kinh nghiệm của Úc và các nước phát triển trong tuyển dụng và bổ nhiệm giáo sư để giúp Việt Nam xây dựng được một lực lượng giáo sư, phó giáo sư có uy tín trong các trường đại học nhằm phục vụ tốt nhất cho sự phát triển kinh tế xã hội của Việt Nam trong những thập kỷ tới.

Trước hết, đối với giáo dục, đào tạo, nghiên cứu, phát triển, cũng như các ngành nghề khác, mỗi quốc gia có những mô hình và các luật lệ khác nhau. Anh, Mỹ, Canada, Úc, New Zealand… có các luật lệ và mô hình giáo dục đại học khác với Việt Nam. Tại Úc, Bộ giáo dục Liên bang có vai trò xây dựng các chính sách giáo dục, đào tạo, nghiên cứu, phát triển, đưa ra các tiêu chí bảo đảm chất lượng học thuật và nghiên cứu, và tài trợ cho các chương trình đào tạo và nghiên cứu của các trường, trong lúc đó quốc hội và chính quyền của mỗi tiểu bang có nhiệm vụ xây dựng các Đạo luật Đại học (University Act) và quản lý các hoạt động của các trường đại học nằm trong mỗi tiểu bang. Các trường Đại học Việt Nam thông thường được ra đời bằng các quyết định.

Hội đồng Khoa học của trường đại học (University Academic Board hay Senate), theo Đạo luật Đại học (University Act), có trách nhiệm báo cáo cho Hội đồng trường (Mỹ gọi là Hội đồng Ủy thác) nhưng là một cơ cấu độc lập. Hội đồng Khoa học và nhiều Ban chuyên môn (Committees) trong Hội đồng có nhiệm vụ bảo đảm chất lượng của các hoạt động hàn lâm, bao gồm giảng dạy và học tập, nghiên cứu phát triển và tham gia cộng đồng. Đặc biệt, Hội đồng Khoa học đóng vai trò xây dựng các tiêu chí và tích cực tham gia vào công tác tuyển chọn nhân sự giảng dạy và nghiên cứu, và bổ nhiệm, thăng chức giáo sư cho lực lượng nhân sự trong trường.

Khác với Việt Nam, nước Úc và các nước phát triển theo mô hình giáo dục đại học Anh (Elitist Education) và mô hình giáo dục đại học Mỹ (Mass Education) không có Hội đồng Chức danh Giáo sư Nhà nước, không có Cục Nhà giáo ở Bộ Giáo dục, cũng không có quy chế riêng phân biệt đẳng cấp Đại học Quốc gia, Đại học Vùng. Trên tấm danh thiếp của các nhà khoa học lớn, các vị giáo sư đầu ngành lừng danh trên thế giới không ghi học hàm (Giáo sư) và học vị (Tiến sĩ). Họ rất quý trọng tài năng của từng cá nhân nhưng không đặt nặng đẳng cấp.

Tại Úc có hai loại giáo sư: giáo sư của một môn học hay một ngành học (giáo sư y học, giáo sư kinh tế, giáo sư kiến trúc, giáo sư cơ học…) và giáo sư quản lý nắm giữ các chức vụ quản lý các cơ sở đào tạo trong trường (trường, khoa, bộ môn, trung tâm, viện…). Mỗi loại giáo sư có những tiêu chí riêng. Một khi không còn làm quản lý hay về nghỉ hưu thì chức vụ giáo sư không còn. Đối với một giáo sư giảng dạy một môn học nào đó và có nắm giữ các chức vụ quản lý khi về hưu thì không ai còn sử dụng học hàm cũ, trừ khi vị ấy được Ban giám hiệu trường phong cho học hàm Giáo sư Danh dự (Emeritus Professor) vì những đóng góp có ý nghĩa đối với trường.

Mỗi trường đại học tùy theo vị thế của mình có những tiêu chí phong học hàm giáo sư khác nhau. Thông thường có những tiêu chí như: (1) có học vị tiến sĩ và có kinh nghiệm giảng dạy và nghiên cứu, (2) có năng lực lãnh đạo và quản lý (như đã nắm giữ một số vị trí then chốt tại một cơ sở nào đó, được mời đọc bài trong phiên họp chính tại các hội nghị lớn, một thành viên chính trong ban tổ chức hội nghị…), (3) có nhiều công trình nghiên cứu đăng trên các báo khoa học có uy tín hoặc có in nhiều sách có nội dung liên quan đến vị trí chuyên môn, (4) đã có những sáng kiến và các hoạt động có thể kiếm được tiền cho trường, (5) có những đóng góp có ý nghĩa cho cộng đồng (Chỉ cần đọc một vài bản tiểu sử (CV) của các ứng viên được phong học hàm giáo sư tại một vài trường đại học Úc thì chúng ta sẽ biết các tiêu chí này).

Quy trình tuyển dụng ở Úc cũng khác Việt Nam. Tại Úc có 42 trường đại học, tất cả là các trường đại học đa ngành. Mỗi trường đại học ở Úc có ba cấp quản lý: Cấp cao nhất trong trường là Đại học (University – đứng đầu là Vice Chancellor), dưới Đại học có nhiều trường (mỗi trường gọi khác nhau: Faculties/Colleges/Schools – đứng đầu là Deans), mỗi trường có nhiều Khoa (Departments – đứng đầu là Head of Department). Mỗi Khoa quản lý ngân sách đào tạo của mình. Khi cần tuyển giảng viên, khoa trưởng dựa vào văn bản tuyển dụng (do Hội đồng Khoa học soạn và đã được thông qua) để các bộ phận nhân sự tiến hành công tác tuyển dụng.

Thông thường vị Khoa trưởng (Head of Department), người làm chủ tài khoản của Khoa, làm phiếu tuyển dụng với các thông tin mô tả nhiệm vụ của người cần tuyển (Position Description) rồi chuyển lên trường, trường chuyển đến bộ phận nhân sự thường do một vị Phó Giám đốc đứng đầu. Bộ phận nhân sự gửi thông tin cho một công ty tư nhân chuyên tìm kiếm và tuyển dụng nhân sự cho những cơ sở có nhu cầu để công ty này tiến hành thủ tục quảng cáo tìm người. Nếu nhân sự cần tuyển là người nắm giữ chức năng quản lý, thì quảng cáo cả tại Úc lẫn quốc tế và có vị đại diện của Hội đồng Khoa học tham gia trong Ban tuyển chọn. Sau khi nhận được hồ sơ của các ứng viên, công ty tuyển dụng lập danh sách khoảng từ ba đến bốn ứng viên có tiềm năng nhất và chuyển cho đại học để khoa và trường liên hệ tiến hành thủ tục phỏng vấn.

Hội đồng Khoa học trong các trường đại học Úc có bốn chức năng: (1) quản trị (governance) các hoạt động hàn lâm của trường (academic governance); (2) duy trì các tiêu chuẩn học thuật (maintenance of Academic Standards) như dạy và học, nghiên cứu và tham gia cộng đồng, xem xét cho ra đời các chương trình đào tạo mới, kiểm tra đánh giá, xây dựng chính sách nghiên cứu và hỗ trợ nghiên cứu, xây dựng các tiêu chí tuyển chọn và thăng thưởng; (3) đối thoại trong trường đại học (Communication within the Institution) với mọi thành phần về các vấn đề liên quan đến học tập và nghiên cứu; và (4) quan hệ với các đối tác bên ngoài (Relationships with External Stakeholders), kể cả các đối tác quốc tế.

Hội đồng Khoa học không có trách nhiệm gì đối với quản lý tài chính, đầu tư, địa ốc và các quản lý khác thuộc những lĩnh vực phi hàn lâm. Tuy vậy, Hội đồng này vẫn có ý kiến liên quan đến hiệu quả của chương trình lớn trong trường.

Như vậy, chức năng tuyển dụng cũng như thăng thưởng các giáo sư trong trường là vai trò của Hội đồng Khoa học của trường đại học. Hội đồng Khoa học trong các trường, do đó, chính là cột trụ cổ vũ tự trị đại học và tự do hàn lâm. Tôi nghĩ các nhà giáo dục, các cấp quản lý và lãnh đạo trong các trường đại học Việt Nam cần có những tranh luận rộng rãi để sớm có sự đồng thuận nhằm giúp nền giáo dục đại học Việt Nam sớm có một nền văn hóa tự trị đại học và tự do hàn lâm, làm bước tiến cho các trường đại học như đất nước đang cần.

Theo kinh nghiệm tại Úc cũng như tại các nước phát triển phương Tây, một trường đại học phát triển mẫu mực là một trường đại học có cơ cấu quản trị ba bên (tripartite Governance structure) gồm Hội đồng trường (University Council/Board of Trustees), Ban Giám hiệu (University Executive) và Hội đồng Khoa học (Academic Board/Senate).

Tại Việt Nam, chừng nào Hội đồng Trường chưa hoàn thành được chức năng xây dựng các chính sách và kiểm soát được các hoạt động hàn lâm của trường đại học và Hội đồng Khoa học chưa hoạt động đúng chức năng của mình thì giáo dục đại học Việt Nam vẫn còn giậm chân tại chỗ.

Nguồn:

– Australian Qualifications Framework

– Higher Education Framework

– RMIT Act 2010

– Tertiary Education Quality and Standards Agency (TEQSA)

– ‘The Purpose and Function of Academic Boards and Senates in Australian Universities’

– The University of Sydney Act 1989 (Part 4 – Function of Senate)

– ‘University Governance: An Issue for Our Time’ in Perspectives: Policy and Practice in Higher Education