Tự chủ đại học: Mạn đàm về trách nhiệm giải trình

Ths. Ninh Ngọc Trâm

Trung tâm Nghiên cứu giáo dục đại học.

 

 

Vấn đề tự chủ đại học luôn đi cùng với trách nhiệm giải trình như hai mặt của một đồng xu. Tuy nhiên, quy định pháp luật hiện hành chưa chế định được đồng bộ quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm, quyền lợi của tất cả các chủ thể, các bên liên quan trong và ngoài cơ sở giáo dục đại học về tự chủ và trách nhiệm giải trình. Trong đó, cần chế định chung đối với tất cả các cơ sở giáo dục đại học nhưng đồng thời có chế định cụ thể đối với các lĩnh vực đặc thù và các trình độ theo năng lực tự chủ cụ thể. Chúng tôi xin giới thiệu bài viết về vấn đề trách nhiệm giải trình khi thực hiện tự chủ đại học của Ths. Ninh Ngoc Trâm

 

Chúng ta có nhiều khi đang sử dụng một số khái niệm một cách tràn lan mà rất ít suy nghĩ về nội hàm của nó. Với quan sát về những trao đổi thảo luận giữa các nhà hoạch định chính sách và cả trong giới học thuật tại Việt Nam, có thể thấy rằng, thuật ngữ “trách nhiệm giải trình” cũng đang chịu chung số phận, trở thành một thuật ngữ bị đơn giản hóa và hình thức hóa. Trong nhiều trường hợp, người ta gần như đánh đồng “trách nhiệm giải trình” với “trách nhiệm báo cáo”. Nếu tiếp tục đi theo cách hiểu rất hạn hẹp và khô cứng này, rất có khả năng trách nhiệm giải trình sẽ chỉ làm tăng gánh nặng hành chính với những thủ tục, báo cáo chồng chất cho các bên liên quan.

Vậy đặt trong bối cảnh nước ta đang tiến hành chủ trương thúc đẩy tự chủ đại học đi đôi với trách nhiệm giải trình, thuật ngữ ‘trách nhiệm giải trình’ nên được hiểu như thé nào? Giải trình cho ai, giải trình như thế nào? Nếu nói cơ sở giáo dục phải giải trình với Nhà nước và với xã hội, vậy nhà nước (với các đơn vị liên quan) có phải giải trình với xã hội và với các trường đại học hay không? Những câu hỏi như vậy đã được một số người đặt ra và thiết nghĩ rất cần một câu trả lời xác đáng.

Về khái niệm “trách nhiệm giải trình” (Accountability), từ điển Merriam-Webster định nghĩa đó là “sự bắt buộc hoặc sự sẵn sàng nhận trách nhiệm và trả lời cho hành động của mình.” Như vậy, trọng tâm của khái niệm này đó là “trách nhiệm” và “khả năng giải thích/chứng minh”.
Trong chương 1 mang tên “The Many Faces of Accountability” (Tạm dịch: Các khía cạnh của trách nhiệm giải trình), (Burke, 2005) cho rằng “trách nhiệm giải trình” đặt ra 6 yêu cầu cơ bản cho tổ chức, bao gồm:

• Tổ chức phải cho thấy rằng những gì họ làm là phục vụ cho nhu cầu của công chúng
• Tổ chức phải chứng minh được rằng họ đang làm việc để hoàn thành những sứ mệnh/những mục tiêu ưu tiên được đặt ra
• Tổ chức phải chứng minh được rằng họ sử dụng quyền lực của mình một cách chính đáng.
• Tổ chức phải chứng minh được tính hiệu quả và hiệu suất trong hoạt động của mình >>> đòi hỏi tổ chức phải tính toán cân nhắc giữa nguồn lực sử dụng và kết quả tạo ra
• Tổ chức phải đảm bảo được chất lượng của sản phẩm/dịch vụ cung cấp
• Tổ chức phải báo cáo về kết quả hoạt động của mình một cách công khai, rõ ràng, minh bạch

Với cái nhìn khái quát đầu tiên, có thể nói 5 yếu tố đầu tập trung giải thích thế nào là “trách nhiệm”, yếu tố cuối cùng liên quan đến việc chứng minh tổ chức đã hoàn thành trách nhiệm đó như thế nào.

Từ đây, quay về trả lời cho câu hỏi đầu tiên, “trách nhiệm giải trình” có đồng nghĩa với báo cáo hay không? Theo người viết, câu trả lời là không. Cách hiểu và thực thi trách nhiệm giải trình thiên về báo cáo là qúa hẹp và quá nặng về tính kỹ thuật. Có thể nguyên nhân một phần là do cách dùng từ “trách nhiệm giải trình” trong tiếng Việt của chúng ta dễ khiến người đọc/người nghe liên tưởng đến “bổn phận/nghĩa vụ giải thích và trình bày” và do đó dẫn đến cách nhìn chưa chính xác – nhấn mạnh quá nhiều vào “báo cáo”. Trong khi đó, “báo cáo” chỉ là một trong những cách để tổ chức chứng minh, giải thích về trách nhiệm và việc hoàn thành trách nhiệm của mình. Đó thực chất chỉ là một phần trong bề nổi của tảng băng.

Vậy cái gì nằm bên dưới tảng băng? Đó là “trách nhiệm”, là ý thức của cá nhân/tổ chức về những bổn phận và những cam kết mà họ phải thực hiện. Trách nhiệm ở đây phải được hiểu là sự đáp ứng nhu cầu công chúng, là sứ mệnh, mục tiêu của tổ chức, là hiệu quả, hiệu suất và chất lượng. Nếu hiểu theo cách như thế, có lẽ cách hiểu accountability như là “sự giải trình (về) trách nhiệm” sẽ chính xác và giàu ý nghĩa hơn “trách nhiệm giải trình”.

(Burke, 2005) cũng trình bày quan điểm về một số câu hỏi khác được đặt ra liên quan đến trách nhiệm giải trình, chẳng hạn như: Khi nói đến trách nhiệm giải trình, ai là người phải giải trình trách nhiệm với ai? Và việc giải trình đó nhằm phục vụ lợi ích của ai? Về lí thuyết, trong một hệ thống dân chủ được tối giản hóa, những viên chức được người dân bầu ra (chẳng hạn như thống đốc, hay các nhà lập pháp) sẽ đóng vai trò như người đại diện được trao quyền (agent), thay mặt người dân đảm nhiệm một sứ mệnh nào đó và do đó họ là người phải giải trình trước người dân. Trong khi đó, công chúng/người dân giữ vai trò kép, vừa là người được tiếp nhận giải trình (principal) vừa là người thụ hưởng lợi ích (beneficiary) của việc giải trình trách nhiệm đó. Tuy nhiên, cùng với tiến trình phân cấp và phân quyền, mối quan hệ này trở nên phức tạp hơn. Chẳng hạn, khi nhà trường được trao cho quyền tự chủ, trên thực tế họ trở thành đối tượng được trao quyền và trao gửi sứ mệnh (agent). Quyền lực và nghĩa vụ đó là do Nhà nước giao phó. Nhà nước đóng vai trò “principal” và do đó, nhà trường trước tiên phải giải trình một cách trực tiếp nhất với Nhà nước. Thế nhưng bản thân Nhà nước cũng không tránh khỏi trách nhiệm giải trình, bởi vì trong một mối quan hệ tương quan khác, quyền lực của Nhà nước lại là do nhân dân giao phó và do đó, Nhà nước sẽ phải chịu trách nhiệm và phải giải trình với nhân dân. Cần phải lưu ý rằng, công chúng (trong trường hợp cụ thể này, có thể nói đến những đối tượng liên quan trực tiếp như sinh viên và gia đình v.v) vẫn đóng vai trò như là những người thụ hưởng sau cùng (beneficiaries) và cũng nên hiểu họ như là người giám sát sau cùng. Mối quan hệ giữa người trao quyền/trao sứ mệnh và người đại diện được trao quyền không hề cứng nhắc mà là một mối quan hệ linh hoạt, tùy bối cảnh, tùy trường hợp mà một đối tượng nào đó có thể là người trao quyền hay người được trao quyền hay thậm chí cả hai. Chính vì thế, trách nhiệm giải trình cũng phải được nhìn nhận linh hoạt, chứ không chỉ là trách nhiệm của riêng nhà trường.

Mở rộng hơn một chút, trong bối cảnh hiện nay, vai trò của công chúng ngày càng quan trọng, không chỉ gói gọn ở khía cạnh “người thụ hưởng” thụ động. Cùng với sự phát triển của xã hội thông tin và khuynh hướng mở rộng sự tham gia (participation) của các thành phần xã hội, công chúng giờ đây có thể tự mình đưa ra đánh giá, đặt ra yêu cầu và trong nhiều trường hợp, đòi hỏi sự giải trình từ phía nhà trường. Thực chất, như đã đề cập ở phần trên, trách nhiệm của nhà trường đã bao hàm trong đó yêu cầu phải đáp ứng nhu cầu của công chúng và do đó đòi hỏi sự tham gia của công chúng và sự kết nối giữa nhà trường với xã hội.

Như vậy tổng kết lại, trách nhiệm giải trình phải được nhìn nhận một cách đầy đủ và linh hoạt hơn, chứ không thể chỉ gói gọn ở (1) nghĩa vụ báo cáo và (2) nhà trường báo cáo với Nhà nước… Đáng tiếc là nếu không sớm đánh giá lại một cách cẩn trọng hơn, có vẻ như cách hiểu có phần khô cứng và hạn chế về “trách nhiệm giải trình” sẽ trở thành xu hướng khó tránh tại Việt Nam. Điều này có thể dẫn đến lợi bất cập hại, nhiều trường có thể sẽ chạy đua vũ trang để hoàn thành và có những báo cáo đẹp chỉ để đệ trình cho Bộ, cho Nhà nước, thỉnh thoảng công bố vài bảng số liệu báo cáo lên website và cho rằng thế là hoàn thành trách nhiệm giải trình. Rất có khả năng người ta sẽ lãng quên những triết lí nằm sâu bên dưới – liên quan đến sự tái định vị liên tục mối quan hệ giữa nhà trường và xã hội (những người thụ hưởng và giám sát sau cùng) cũng như trách nhiệm mà nhà trường phải thể hiện trong mối quan hệ đó. Nói cách khác, có một nguy cơ là cả hệ thống giáo dục sẽ chỉ chú ý đến bề nổi là những thủ tục báo cáo nặng tính hành chính mà ít đầu tư để nhìn nhận trách nhiệm thực sự của giáo dục đại học.

Nguồn tham khảo:
Burke, J (2005), Achieving Accountability in Higher Education: Balancing Public, Academic and Market Demands, Chapter 1. The Many Faces of Accountability, San Francisco: Jossey-Bass, 2005: http://www.rockinst.org/…/2004-10-achieving_accountability_…