Hệ thống cơ sở giáo dục ngoài công lập (Phần 1)

PGS.TS. Trần Quốc Toản

Hội đồng Lý luận Trung ương

 

Với tư duy đổi mới của Đại hội Đảng lần thứ 6 năm 1986 chuyển đổi nền kinh tế từ cơ chế kế hoạch tập trung bao cấp sang cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh được khuyến khích phát triển. Trong lĩnh vực giáo dục đại học một trong những ý tưởng đổi mới là việc chấp nhận sự tồn tại của các cơ sở GDĐH ngoài công lập.

Trung tâm Nghiên cứu Giáo dục đại học xin giới thiệu bài viết của PGS.TS. Trần Quốc Toản, Hội đồng Lý luận Trung ương về Hệ thống cơ sở giáo dục ngoài công lập để thấy rõ sự kết hợp công – tư trong tài trợ nguồn lực và cơ chế vận hành nhằm giúp hệ thống giáo dục năng động và hiệu quả hơn.

Sự hình thành và phát triển của hệ thống cơ sở giáo dục ngoài công lập trong hệ thống giáo dục của các nước

Sự ra đời và phát triển của hệ thống cơ sở giáo dục ngoài công lập trên thế giới là một xu thế khách quan, không phải chủ yếu vì các nước thiếu tiền đầu tư cho giáo dục công (hệ thống trường công), mà trước hết vì bản chất của giáo dục dù ở cấp độ nào, hình thức nào đề chứa đựng các yếu tố của lợi ích công và lợi ích tư, trách nhiệm công và trách nhiệm tư của các chủ thể liên quan, dù có sự khác nhau về tương quan giữa các cấp – bậc và hình thức giáo dục. Đặc biệt khi nền giáo dục vận hành trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế, giáo dục được xác định là một lĩnh vực dịch vụ, một lĩnh vực đầu tư cho phát triển, với sự tham gia của nhiều chủ thể, nhiều thành phần kinh tế trong xã hội, cả trong và ngoài nước. Điều đặc biệt quan trọng là cần phải tạo được động lực mạnh mẽ, đúng đắn, cơ chế phù hợp huy động mọi nguồn lực của xã hội và cơ chế cạnh tranh lành mạnh cho sự phát triển có hiệu quả của cả hệ thống giáo dục quốc dân trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế. Điều này là một điều kiện và yêu cầu khách quan cho sự phát triển của hệ thống các cơ sở giáo dục ngoài công lập – như một phân hệ hữu cơ của hệ thống giáo dục các nước (còn trên thực tế các trường tư thục đã xuất hiện ở các nước từ trong chế độ phong kiến); đồng thời gắn liền với đó là sự đổi mới cơ chế vận hành của các cơ sở giáo dục công lập theo hướng tự chủ, mà xét về bản chất là xác định quyền – nghĩa vụ – trách nhiệm – lợi ích của các chủ thể liên quan trong cơ sở giáo dục gắn với chất lượng, hiệu quả giáo dục, với chất lượng và hiệu quả huy động và sử dụng các nguồn lực, gắn với trách nhiệm trách giải trình – trách nhiệm xã hội của cơ sở giáo dục công lập. Như vậy xét riêng về cơ chế vận hành của cơ sở giáo dục công lập theo cơ chế tự chủ có nhiều nét tương đồng với cơ chế vận hành của cơ sở giáo dục ngoài công lập.

Trên thế giới sự phát triển của hệ thống các cơ sở giáo dục ngoài công lập phụ thuộc nhiều vào quan niệm truyền thống của mỗi nước về tương quan giữa giáo dục là phúc lợi hay giáo dục là dịch vụ (có những nước phát triển cao, rất giàu có, nhưng hệ thống các cơ sở giáo dục ngoài công lập rất phát triển và nền giáo dục cũng phát triển ở trình độ cao ; ngược lại có những nước kém phát triển nhưng hệ thống giáo dục lại thiên về phát triển các cơ sở giáo dục công lập theo cơ chế bao cấp, ít phát triển cơ sở giáo dục ngoài công lập). Tuy nhiên, trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế, xu thế chung ở các nước là đẩy mạnh phát triển hệ thống cơ sở giáo dục ngoài công lập tương thích với mức độ và tương quan giữa lợi ích công và lợi ích tư của các cấp, bậc học và hình thức giáo dục, đào tạo. Điều này gắn với tính chất công (lợi ích công) của hàng hóa dịch vụ giáo dục khác nhau ở các cấp học khác nhau. Giáo dục bắt buộc, giáo dục phổ cập thường được xem là hàng hóa dịch vụ công cộng thuần túy; còn các bậc giáo dục nghề nghiệp (giáo dục chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học) được xem là hàng hóa dịch vụ công cộng không thuần túy, gắn nhiều hơn với lợi ích tư của từng người học. Do đó, ở các nước, đối với giáo dục phổ thong, đầu tư công thường lớn hơn đầu tư tư. Giáo dục phổ thông được bao cấp nhiều hơn so với giáo dục đại học (GDĐH) và chuyên nghiệp. Đối với GDĐH đầu tư công thường thấp hơn và tính chất thị trường của GDĐH cao hơn. Trên thế giới, tỉ lệ đầu tư của nhà nước cho các cấp học trong hệ thống giáo dục ở các nước cũng khác nhau, phụ thuộc vào điều kiện cụ thể của mỗi nước; những nước kém phát triển nhà nước thường đầu tư nhiều hơn cho các cấp học phổ thông (phát triển trường công) để thực hiện mục tiêu phổ cập giáo dục.

Trên thế giới, xu thế phát triển chung coi giáo dục đai học là lĩnh vực mang tính hàng hóa dịch vụ cao (lợi ích tư cao), và do đó tiếp cận cơ chế thị trường sâu rộng hơn so với các cấp, bậc giáo dục phổ cập, giáo dục cơ bản, giáo dục bắt buộc. Do đó đối với GDĐH, ở nhiều nước đầu tư công (của Nhà nước) thường có thể chiếm tỷ trọng ít hơn so với đầu tư công trong giáo dục phổ thông. Điều đáng lưu ý là tại một số nước đầu tư công cho GDĐH chiếm tỷ trọng không cao hơn, thậm chí ít hơn so với đầu tư tư nhưng lại có nền GDĐH có chất lượng thuộc loại hàng đầu thế giới, như Mỹ, Canada, Anh, Úc, Nhật Bản, Israel, Korea, New Zeland…(Xem Biểu đồ và bảng số liệu dưới đây)

 Từ số liệu trên cho thấy, ngay tại Đông Á, trong GDĐH, ở hầu hết các nước quy mô đào tạo khu vực tư cao hơn nhiều so với khu vực công, kế cả những nước có nền kinh tế và giáo dục phát triển cao như Nhật bản, Hàn Quốc, Hồng Kông, Đài loan, Malaysia…

Số liệu thống kê giáo dục của các nước cho thấy, hệ thống giáo dục tư đang phát triển mạnh ở các nước: 1/3 sinh viên học sinh trên thế giới theo học các trường tư và điều này dẫn đến sự gia tăng các cơ sở giáo dục vì lợi nhuận[1]. Tuy

nhiên các cơ sở này vẫn chịu sự điều tiết của nhà nước chứ không hoàn toàn theo sự chi phối của thị trường.

Sự phát triển của hệ thống các cơ sở giáo dục ngoài công lập là một điều tất yếu trong nền kinh tế thị trường. Hệ thống cơ sở giáo dục đó có những yếu tố tích cực sau:

  • Làm đa dạng thêm các hình thức, các loại hình giáo dục và các loại trường;
  • Giải quyết vấn đề thiếu hụt kinh phí và cơ sở vật chất của giáo dục;
  • Đáp ứng nhu cầu đi học của các tầng lớp nhân dân và các nhu cầu giáo dục khác nhau của các đối tượng người học khác nhau;
  • Tạo môi trường cạnh tranh để nâng cao chất lượng giáo dục và kích thích sự phát triển của giáo dục;
  • Thay đổi phương thức quản lí trong các nhà trường một cách linh hoạt và hiệu quả hơn; Giảm các thủ tục phiền hà của cơ chế quản lí hành chính tập trung quan liêu; tiết kiệm chi phí quản lí;
  • Đóng góp vào sự phát triển khoa học và tuyên truyền kiến thức mới; Dễ áp dụng các sáng kiến mới và các ý tưởng mới …
  • Doanh thu do giáo dục tư đóng góp cho nền kinh tế tương đối cao (20- 30% ở các nước phát triển) (Tempereen Yliopisto, 5/2006)

Tuy nhiên ở các nước, trong hệ thống trường tư có những trường chất lượng cao, nổi tiếng và có uy tín. Đồng thời cũng có những trường kém chất lượng, do tác động tiêu cực của cơ chế thị trường và thiếu cơ chế quản lý có hiệu quả của Nhà nước; có những trường không được kiểm định chất lượng, đặt việc kiếm nhiều lợi nhuận làm mục tiêu chi phối tất cả, không coi trọng chất lượng giáo dục hoặc chỉ tập trung đào tạo các ngành nghề “nóng” của xã hội, ít chú trọng đào tạo các khía cạnh nhân văn, các kĩ năng sống và các kĩ năng xã hội cho người học, thuê giảng viên ít kinh nghiệm giảng dạy bán thời gian với mức lương thấp; thậm chí có hiện tượng lừa đảo người học…

Nhìn chung cả hai hệ thống cơ sở giáo dục công và tư đều có những mặt mạnh và những mặt hạn chế trong việc phát triển giáo dục và đáp ứng các nhu cầu học tập của xã hội. Coulson (1998) lưu ý rằng, mục đích của giáo dục công là rất tốt đẹp. Nhưng chỉ có các trường công thì các mục đích đó khó mà thực hiện được tốt và có hiệu quả cao. Coulson đã tiến hành các nghiên cứu so sánh giáo dục của các nước qua các thời kỳ, trong các chế độ kinh tế xã hội khác nhau và rút ra kết luận rằng các hệ thống giáo dục có tính cạnh tranh làm tốt công việc của mình hơn là hệ thống giáo dục công thuần túy. Chính hệ thống các cơ sở giáo dục tư khi được quản lý tốt đã góp phần thực hiện tốt các mục tiêu giáo dục công – mục tiêu chung của xã hội. Do đó, ngày nay ở hầu hết các nước, việc tăng cường mối quan hệ hợp tác công – tư trong giáo dục ngày càng được chú trọng, với các hình thức rất đa dạng, đang là những giải pháp quan trọng của các nước để phát triển có chất lượng và hiệu quả hệ thống giáo dục.

Trần Quốc Toản

[1] Số liệu trường tư của một số nước như sau: Ở Mĩ: 42,2% trường phổ thông (trong đó 39,9% ở thành thị, 17,7% trường tiểu học, 60,8% trường trung học cơ sở và trung học cao), 60% trường đại học hai năm và bốn năm tư là trường tư; (Wikipedia);  Ở Úc: 32% học sinh theo học trường tư; nhưng Úc chỉ có 03 đại học tư trên tổng số 39 đại học. Từ những năm cuối thập niên 1970 tỉ lệ học sinh ở Úc theo học các trường tư tăng 10%: từ tỉ lệ 1/5 cuối năm 70 lên 1/3 học sinh theo học trường tư hiện nay. Những trường tư tốt là nơi chủ yếu dành cho con em các gia đình khá giả (Ryan và Watson 9/2004); Ở Brazil 70%, ở Hàn Quốc 75% và Philippines 80% sinh viên học trường tư (Sawyerr, Akilagpa, 2004); Ở Anh có 2.500 trường phổ thông tư và chủ yếu là trường nội trú (Private Education i-UK.com); Ở Canada có 8% học sinh phổ thông là con em của các gia đình giàu có theo học trường tư, có một số trường đại học tư (Wikipedia).