Hệ thống cơ sở giáo dục ngoài công lập (Phần 3)

PGS.TS. Trần Quốc Toản

Hội đồng Lý luận Trung ương

MỐI QUAN HỆ CÔNG – TƯ TRONG PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC

Hiện nay trên thế giới xu hướng kết hợp các yếu tố công và yếu tố tư trong phát triển giáo dục đang ngày càng phát triển, trong bối cảnh quan hệ đối tác –hợp tác công – tư ( public – private partnership ) trong phát triển kinh tế và các lĩnh vực khác đang là một xu thế được đẩy mạnh. Từ những đặc điểm bản chất của quá trình giáo dục – đào tạo, của hàng hóa dịch vụ giáo dục – đào tạo, thấy rõ mối quan hệ công – tư trong giáo dục đào tạo được thể hiện ở những điểm chủ yếu sau:

  1. Trước hết thể hiện ở trong bản chất giáo dục đào tạo chứa đựng cả lợi ích công cộng và lợi ích cá nhân. Đây là sự thống nhất có tính biện chứng, tuy mối tương quan giữa lợi ích công cộng và lợi ích cá nhân có khác nhau ở các cấp học, bậc học, nhưng không thể có mặt (lợi ích) này mà loại bỏ mặt (lợi ích) kia. Do đó quá trình sản xuất, cung ứng và tiêu dùng dịch vụ giáo dục đào tạo luôn đòi hỏi sự kết hợp hợp lý lợi ích công và lợi ích cá nhân ở các cấp, bậc, loại hình đào tạo. Có như vậy mới đảm bảo cho quá trình giáo dục, đào tạo đạt được mục tiêu chung của xã hội cũng như lợi ích riêng của từng chủ thể, mỗi cá nhân; đạt hiệu quả về mặt kinh tế và công bằng, bình đẳng về mặt xã hội, phù hợp với trình độ phát triển và điều kiện cụ thể.
  2. Trong hệ thống giáo dục – đào tạo quốc gia thống nhất, sự tồn tại và phát triển của cả phân hệ cơ sở giáo dục công lập và phân hệ cơ sở giáo dục ngoài công lập (tư nhân) là một đòi hỏi khách quan, tạo nên sự cạnh tranh về bản chất giáo dục không mang tính chất đối kháng, mà ngược lại góp phần nâng cao hiệu quả và chất lượng giáo dục đào tạo. Hệ thống giáo dục đào tạo gồm cả các cơ sở công lập và các cơ sở ngoài công lập sẽ có sự năng động hơn, hiệu quả hơn trong việc đáp ứng nhu cầu học tập đa dạng, đa tầng, luôn thay đổi của mỗi cá nhân và của toàn xã hội.
  3. Về phối hợp nguồn lực công và nguồn lực tư cho phát triển giáo dục đào tạo: có thể nói rằng sản phẩm giáo dục đào tạo là kết quả tổng hợp của các nguồn lực công, nguồn lực tư, của Nhà nước, của người học (gia đình) và của cả xã hội; không chỉ về mặt kinh tế, vật chất mà cả về nguồn lực tinh thần, văn hóa, đạo đức. Điều này được thể hiện ngay trong các cơ sở giáo dục đào tạo công lập. Đối với hệ thống các cơ sở giáo dục ngoài công lập, sản phẩm giáo dục đào tạo cũng không phải là kết quả của chỉ của nguồn lực ngoài nhà nước, nguồn lực tư của cơ sở giáo dục đào tạo. Ở các nước, Nhà nước thường có các chính sách ưu đãi, hỗ trợ cho các cơ sở giáo dục đào tạo ngoài nhà nước, nhất là các cơ sở hoạt động theo cơ chế KVLN, hỗ trợ cho người học ở những cơ sở ngoài công lập…. Đồng thời cả các cơ sở giáo dục đào tạo công lập và ngoài công lập đều phải hướng tới đảm bảo mục tiêu chung về giáo dục đào tạo mà Nhà nước và xã hội yêu cầu.
  4. Kết hợp phương thức giáo dục công và phương thức giáo dục tư: có thể nói sản phẩm của giáo dục đào tạo cũng là kết quả tổng hợp phương thức giáo dục công và phương thức giáo tục tư, của giáo dục nhà trường, gia đình, xã hội và sự tự giáo dục của mỗi người học.
  5. Kết hợp giữa công và tư trong quản trị – vận hành cơ sở giáo dục : Có những quan điểm cho rằng “trường công là trường công, trường tư là trường tư”, không nên kết hợp hai cơ chế đó với nhau. Song xét cả về lý luận và thực tiễn, sự kết hợp các yếu tố công và yếu tố tư (public – private partnership) trong vận hành một cơ sở giáo dục đào tạo phản ảnh quá trình xã hội hóa và sự phát triển đa dạng các mô hình nhà trường trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế, trong việc lựa chọn mô hình nào có hiệu quả nhất, chất lượng nhất, kết hợp được ưu thế của cả công và tư. Nếu xét sự hoạt động của một cơ sở giáo dục đào tạo qua sự kết hợp của hai yếu tố chủ yếu: nguồn tài trợ (kinh phí) và tổ chức vận hành (quản trị nhà trường) có thể có 4 sự kết hợp sau:

. Tài trợ nhà nước (công) cao với vận hành công cao (theo cơ chế hành chính tập trung quan liêu): tức tài trợ tư thấp với vận hành tư thấp – cơ chế tự chủ thấp.

. Tài trợ nhà nước (công) cao với vận hành công thấp: tức cơ chế tự chủ cao; tức tại trợ tư thấp với vận hành tư cao.

. Tài trợ nhà nước (công) thấp với vận hành công cao: tức tài trợ tư cao với vận hành tư thấp

. Tài trợ nhà nước (công) thấp với vận hành công thấp: tức tài trợ tư cao với vận hành tư cao

Trong các mô hình đó, nếu cơ sở được nhà nước tài trợ cao (tài trợ công) thì tài trợ tư thấp và ngược lại; nếu vận hành công cao (tức Nhà nước trực tiếp quản lý vận hành nhà trường theo cơ chế kế hoạch tập trung quan liêu) thì vận hành tư thấp (tức yếu tố cơ chế tự chủ, tính độc lập quản lý vận hành nhà trường ít) và ngược lại. Xét một cách khái quát sẽ tồn tại các mô hình chủ yếu: tài chính công – vận hành công; tài chính công – vận hành tư; tài chính tư – vận hành công; tài chính tư – vận hành tư (tuy rằng trên thực tế có sự đan xen, kết hợp ở những mức độ khác nhau về vận hành công – vận hành tư và tài chính công – tài chính tư).

Dựa vào cơ sở dữ liệu PISA (Programme for International Student Assessment) của tổ chức OECD về kết quả đánh giá thành tích học tập của học sinh phổ thông ở 32 nước phát triển và đang nổi lên trên thế giới về toán học (72.493 học sinh), về đọc (130.242 học sinh), về khoa học (72.388 học sinh) Woessmann[1] đã xem xét tương quan thành tích học tập với tỷ lệ cấp tài chính của nhà nước và tỷ lệ vận hành (công) giáo dục của Nhà nước (cũng có nghĩa là với tỷ lệ cấp tài chính của tư và tỷ lệ vận hành giáo dục tư) và đã đưa ra những kết quả rất đáng chú ý, như mô tả ở hình 1.

Trên hình 1, nếu coi thành tích học tập ở mô hình tài trợ tư – vận hành công (tài trợ công thấp – vận hành công cao) làm chuẩn so sánh (0.0 điểm), thì thành tích học tập ở mô hình tài trợ tư cao – vận hành tư cao có thành tích là 36.7 điểm, tương đương với thành tích 36.6 điểm của mô hình tài trợ công cao – vận hành công cao. Còn thành tích học tập cao nhất thuộc về mô hình tài trợ công cao – vận hành tư cao đạt 74.6 điểm (tức trong mô hình nhà nước tài trợ cao, nhưng trường được vận hành theo cơ chế tự chủ phù hợp cao) .

Từ những kết quả nghiên cứu – phân tích đã đưa ra những nhận xét quan trọng sau:

– Hai dạng kết hợp công – tư là tài trợ công với vận hành tư và vận hành công với tài trợ tư cho những kết quả trái ngược hoàn toàn so với hệ thống hoàn toàn là công hoặc chủ yếu là tư.

– Vận hành công nói chung hiệu quả thấp, ảnh hưởng tiêu cực đối với thành tích học tập. Trong khi tài trợ công lại có ảnh hưởng tích cực đến kết quả học tập. Điều đó cho thấy hệ thống trường được xây dựng trên cơ sở kết hợp công – tư theo hướng Nhà nước hỗ trợ tài chính cho các trường kết hợp với cơ chế vận hành tư (cơ chế tự chủ) sẽ là hệ thống có hiệu quả nhất. Tức là khi đó có sự kết hợp có hiệu quả nhất tác động tích cực của tài trợ công với tác động tích cực của vận hành tư. Điều đó cho thấy vai trò đặc biệt của tài trợ công cấp cho người học – trong đó có những gia đình thu nhập thấp – được lựa chọn trường vận hành tư.

– Hệ thống được tài trợ tư cao nhưng vận hành trong cơ chế công sẽ kém hiệu quả hơn hệ thống cả tài trợ và vận hành đều công hoặc hệ thống cả tài trợ và vận hành đều tư.

– Tuy nhiên những kết quả nghiên cứu này chưa đề cập đến nhiều phương diện khác (trong việc kết hợp công – tư) như hiệu quả kinh tế, tính bình đẳng và công bằng xã hội, sự kết hợp công – tư có thể khác nhau phụ thuộc vào cấp, bậc học, vào mức độ tự chủ của các trường (cấp phổ thông có thể khác với đào tạo nghề nghiệp, đào tạo đại học), vào điều kiện và chính sách của mỗi nước.

Giáo dục đại học (và giáo dục nghề nghiệp nói chung) có tính công cộng  thấp hơn và tính lợi ích cá nhân cao hơn so với giáo dục phổ thông. Do đó giáo dục đại học đòi hỏi tính tự do học thuật và cơ chế tự chủ cao hơn so với giáo dục phổ thông. Chính vì vậy tác động của cơ chế vận hành và tài trợ tài chính theo hướng đảm bảo tính tự chủ cao có ảnh hưởng tích cực mạnh hơn. Trên thế giới đã và đang diễn ra cả 2 quá trình: nhà nước trao quyền tự chủ cao cho các trường công lập (kể cả về mặt thực hiện nhiệm vụ chuyên môn; tổ chức biên chế, nhân sự, tài chính); bên cạnh tài trợ của Nhà nước, trường được tự chủ huy động các nguồn lực tư. Việc thực hiện cơ chế tự chủ như vậy thực chất là sự kết hợp giữa tài trợ công với tài trợ tư và hướng theo cơ chế vận hành tư. Đó là hướng kết hợp công – tư có hiệu quả. Đồng thời nhà nước cũng có các chính sách ưu đãi, hỗ trợ cho các trường tư, cho người học ở trường tư. Đó là sự kết hợp tài trợ công và vận hành tư. Những kết quả nghiên cứu cũng cho thấy tỷ lệ tư nhân tham gia vào cấp tài chính tăng làm cho hiệu quả và thành tích giáo dục bậc cao tăng, nhất là ở các trường tư. Điều đó được phản ảnh ở một mức độ nào đó ở mối quan hệ giữa cấp tài chính tư và số trường đại học hàng đầu trên thế giới nêu ở bảng B.1.

Rõ ràng sự kết hợp công – tư trong tài trợ nguồn lực và trong cơ chế vận hành là một đòi hỏi và thực tế khách quan, làm cho hệ thống giáo dục năng động hơn, hiệu quả hơn. Vấn đề là phải kết hợp được một cách hợp lý, có hiệu quả các mặt tích cực giữa tài trợ và vận hành của cơ chế công và cơ chế tư.

[1] Public – Private Partnerchips and schooling Outcounes Across Conntries. Ludger Woessmann, February 2006

 

PHỤ LỤC

Một số cơ sở Giáo dục – Đào tạo vì lợi nhuận của Mỹ  

  1. Edison Schools:
  • Mở trường đầu tiên 1995
  • Tính chất: nhà điều hành tư nhân đối với hệ thống trường công lập từ lớp 12 trở xuống.
  • Quy mô:

Năm 2000:

Có 79 trường thành viên (trong đó có 24 trường hợp đồng, 55 trường uỷ quyền).

38.000 học sinh.

Năm 2009:

Có 120 trường tại 24 bang của Mỹ và tại Anh Quốc.

350.000 học sinh.

  • Kinh phí: Các trường hoạt động với sự tài trợ kinh phí của nhà nước theo định mức trên đầu học sinh. Học sinh không phải đóng học phí (đối với các trường ủy quyền).  
  1. National Heritage Academies (NHA):
  • Thành lập năm 1996
  • Mục đích: nhằm cung ứng dịch vụ Giáo dục tốt hơn các trường công lập truyền thống.
  • Tính chất: Nhà điều hành tư cho hệ thống trường công lập với tiêu chí “học vấn xuất sắc, chú trọng đạo đức, quan hệ mật thiết với gia đình và học sinh là trọng tâm”.
  • Quy mô:

Năm 2000:

Có 22 trường uỷ quyền

Có 8.000 học sinh

Năm 2008:

Có 61 trường tại 6 bang

Có 38.000 học sinh

  • Kinh phí: Các trường hoạt động với sự tài trợ kinh phí của nhà nước theo đầu học sinh, Học sinh không phải đóng học phí 
  1. Scientific Learning Corporation:
  • Thành lập năm 1996
  • Mục đích : nhằm cung ứng các phần mềm, sản phẩm và dịch vụ Giáo dục cho các trường từ lớp 12 trở xuống và cho các cơ sở Giáo dục – Đào tạo khác ( kể cả cho Giáo dục – Đào tạo đối với người lớn tuổi); xây dựng các trung tâm dạy ngoại ngữ, phụ đạo và hỗ trợ học tập thế giới.
  • Tính chất: Nhà điều hành tư cho hệ thống trường công lập với tiêu chí “học vấn xuất sắc, chú trọng đạo đức, quan hệ mật thiết với gia đình và học sinh là trọng tâm”.
  • Quy mô: Các sản phẩm và dịch vụ Giáo dục – Đào tạo của công ty đã và đang được cung ứng tại 40 nước trên thế giới.
  • Kinh phí: Theo cơ chế thị trường 
  1. Renaissance Learning, Inc:
  • Thành lập năm 1986
  • Mục đích: Cung cấp các hệ thống thông tin học tập, giảng dạy cho các trường phổ thông đến lớp 12 tại Mỹ và Canada; cung cấp các chương trình đào tạo giáo viên.
  • Quy mô:
    • Năm 2000: Cung ứng sản phẩm ,dịch vụ cho 41.000 trường phổ thông (chiếm khoảng 33% thị phần trường phổ thông)
    • Năm 2008: Cung cấp sản phẩm, dịch vụ cho 75.000 trường phổ thông.
  • Kinh phí: Theo cơ chế thị trường 
  1. DeVry, Inc:
  • Thành lập năm 1931, DeVry University
  • Mục đích: Cung cấp dịch vụ Giáo dục đại học, sau đại học, học tập suốt đời theo định hướng nghề nghiệp (career-oriented)
  • Quy mô:

Năm 2000:

có 16 chi nhánh.

Có 38.000 sinh viên

Năm 2008:

Có 90 chi nhánh

Có 70.000 sinh viên

  • Kinh phí: Theo cơ chế thị trường  
  1. Kaplan, Inc:
  • Thành lập năm 1938, gồm hệ thống các trường, trung tâm
  • Mục đích: cung cấp các dịch vụ Giáo dục – Đào tạo:
  • Các chương trình Giáo dục – Đào tạo cho trẻ nhỏ và các trường phổ thông.
  • Các chương trình kiểm tra
  • Đào tạo cao đẳng, đại học
  • Đào tạo nghề nghiệp, đào tại lại.
  • Quy mô:

Năm 2000:  có khoảng 1200 lớp học trên toàn thế giới. (bao gồm 27 trung tâm ở 18 nước ngoài bắc Mỹ)

Năm 2009:

Có hơn 600 chi nhánh ở hơn 30 nước trên thế giới.

Mỗi năm có hơn 1 triệu sinh viên

Cung ứng trên 500 chương trình đào tạo nghề nghiệp qua mạng online.

  • Kinh phí: Theo cơ chế thị trường. 
  1. University of Phoenix:
  • Thành lập năm 1976, thuộc tập đoàn Apollo Group
  • Mục tiêu: Xây dựng cách tiếp cận mới về Giáo dục đại học. Tạo điều kiện thuận lợi để đáp ứng nhu cầu học tập của nguồn học lớn tuổi, đang làm việc; nâng cao trình độ tri thức và kỹ năng nghề nghiệp cho người học để đạt mục tiêu nâng cao chất lượng và hiệu suất làm việc.
  • Triết lý: Lịch học linh hoạt; năng lực thực hành; thiết kế chương trình tập trung.
  • Trình độ đào tạo: Đại học; Thạc sỹ; Tiến sỹ
  • Phương thức đào tạo: Chủ yếu qua mạng online; có cả tại trường; số khoa đào tạo bán thời gian, đào tạo ban đêm, ngày chủ nhật chiếm 95%
  • Cơ cấu:

Gồm 8 trường đại học thành viên.

204 chi nhánh và trung tâm học tập

Đặt tạo 40 bang nước Mỹ, và các nước Columbia, Chile, Puerto Rico, Canada, Mexico, Hà Lan, một số nước ở Châu Âu và khu vực khác.

  • Quy mô đào tạo:

420.700 sinh viên đại học

78.000 sinh viên sau đại học

  • Tính chất: Trường tư, vì lợi nhuận
  • Năm 2008 thu được từ người học 2,48 tỷ USD.
  • Chất lượng đào tạo: Năm 2009 xếp thứ hai trong số hơn 140 trường đại học qua mạng; đã thực hiện kiểm định chất lượng.
  • Kinh phí: theo cơ chế thị trường.

 

  Tài liệu tham khảo

  1. For – profit school – Wikipedia, the Free Encyclopedia
  2. For – profit, Post-secondary Education: Industry Trends
  3. State schools may be run for frofit – Time online july 26, 2009.
  4. For – profit schools. http://www.education.com/article/ref-what-profit-schools/
  5. For – profit Educetion companies. January 30,2006
  6. For – profit vs norprofit Onliwe Schools. http://www.allonlineschools.com
  7. For – Profit education Industry Overview. Morgan’Stanley. October 18,2004
  8. Education Plicy Analysis Archiver. Volirun 9 Number 15, April 2, 2001
  9. Policy Analysis. By Carrie Lips, November 20,2000.
  10. Ecs Education Policy Issue Site: Por- profit/proprietasy
  11. Wordnet.princeton.edu/perl/webwn
  12. En.wiktionary.org/wiki/not-for-profit
  13. Https://www.acorporation4less.com/glossary
  14. Www.finance.ualberta.ca/guide/topics/glossary/index.cfm
  15. Grants.galls.com/glossary.htm
  16. Www.hov.org/glossary of terms.aspx
  17. Higher Ed,Inc.The rise of the for-profit University Sloan-C book Review