Hệ thống cơ sở giáo dục ngoài công lập (Phần 2)

PSG.TS. Trần Quốc Toản

Hội đồng Lý luận Trung ương

CƠ SỞ GIÁO DỤC VÌ LỢI NHUẬN VÀ CƠ SỞ GIÁO DỤC KHÔNG VÌ LỢI NHUẬN

Hiện nay trên thế giới, đang tồn tại hai loại cơ sở GD-ĐT chủ yếu: Cơ sở vì lợi nhuận (VLN) và cơ sở không vì lợi nhuận (KVLN). Khái niệm VLN hay KVLN ở đây được xét chủ yếu về mục đích đầu tư, về phương diện kinh tế, nội dung kinh tế trong hoạt động của cơ sở giáo dục, đào tạo.

I. Cơ sở Giáo dục – đào tạo vì lợi nhuận

1) Sự tồn tại và phát triển các cơ sở GD-ĐT VLN tăng mạnh ở nhiều nước là do những yếu tố sau đây:

– Nhu cầu về nhân lực chất lượng cao, trình độ cao tăng mạnh; nhu cầu  đào tạo lại, chuyển nghề nghiệp tăng nhanh.

– GD-ĐT trở thành đại chúng hoá. Ngân sách của nhà nước không thể đáp ứng nhu cầu lớn như vậy.

– Mô hình và cơ chế hoạt động của hệ thống Giáo dục – Đào tạo công lập truyền thống có những hạn chế .

– Trong điều kiện KTTT và hội nhập kinh tế sâu rộng, vận dụng cơ chế thị trường để phát triển GD-ĐT có hiệu quả hơn. Quy định của WTO và GATS, GD-ĐT là một ngành dịch vụ, mở ra cơ hội kinh doanh trên toàn cầu.

– Tri thức, sức lao động có trình độ cao đang trở thành hàng hóa đặc biệt mang tính toàn cầu; đầu tư cho GD-ĐT là đầu tư phát triển.

-Với mỗi cá nhân đầu tư cho GD-ĐT là cho lợi ích của minh,do đó sẵn sàng chi trả.

– Các nhà đầu tư, các nhà kinh doanh nhận thấy GD-ĐT là một lĩnh vực đầu tư kinh doanh có hiệu quả, cả ở trong nước và thị trường thế giới.

– Sự phát triển mạnh mẽ của CNTT, internet tạo ra phương thức GD mới.

– Các nước có những quy định pháp lý rộng mở hơn ,đầy đủ hơn cho phát triển các cơ sở GD-ĐT vì lợi nhuận.

   2) Những cơ sở GD-ĐT VLN có những đặc điểm chủ yếu sau :

– Nguồn vốn đầu tư xây dựng và hoạt động thường là của tư nhân (cũng có thể là nguồn tài trợ khác)

– Chủ sở hữu là tư nhân; hoặc người uỷ thác( như nhà nước ).

–  tiêu kinh tế: vì lợi nhuận

– Sử dụng lợi nhuận: Lợi nhuận một phần được sử dụng để đầu tư phát triển cơ sở GD-ĐT và phần phân chia cho các chủ thể góp vốn (các chủ thể đầu tư có toàn quyền quyết định ).

– Cơ chế hoạt động cung cấp dịch vụ GD-ĐT: theo cơ chế thị trường.

  3) Các cơ sở GD-ĐT VLN có những ưu điểm tiềm năng chủ yếu sau:

– Các cơ sở GD-ĐT VLN nhìn chung hoạt động có hiệu quả tốt hơn.

– Nâng cao trách nhiệm đối với người học; Sự tồn tại và phát triển lâu dài của cơ sở GD-ĐT VLN dựa trên uy tín, chất lượng GD-ĐT.

– Các cơ sở GD-ĐT VLN hoạt động theo cơ chế tự chủ hoàn toàn, theo nhu cầu của thị trường và của xã hội; năng động hơn, hiệu quả hơn.

– Tạo ra sự cạnh tranh đối với hệ thống giáo dục.

– Góp phần thúc đẩy nhà nước đổi mới và hoàn thiện cơ chế chính sách phát triển GD-ĐT.

   4) Những hạn chế, điểm yếu, tiêu cực tiềm ẩn

 – Sự thiếu hiểu biết về quản lý cơ sở GD-ĐT VLN có thể mắc phải những sai lầm nghiêm trọng.

– Nếu không có sự quản lý chặt chẽ của nhà nước có thể dẫn đến sự sai lệch trong mục tiêu Giáo dục vì chạy theo lợi nhuận .

– Do hoạt động vì lợi nhuận, không hoặc ít hướng vào đào tạo các ngành xã hội cần nhưng ít người muốn học, các ngành cần xuất đầu tư lớn

– Các cơ sở GD-ĐT VLN thường thu học phí cao.

Các ưu điểm cũng như những yếu điểm của các cơ sở GD-ĐT VLN đều là “tiềm năng”, bởi vì việc hiện thực hoá các ưu điểm đó và khắc phục, hạn chế các điểm yếu đó tới mức nào phụ thuộc một cách quyết định bởi khuôn khổ luật pháp và cơ chế quản lý của nhà nước.

   5)  Hiện nay có hai loại cơ sở Giáo dục – Đào tạo vì lợi nhuận:

 – Loại thứ nhất là các cơ sở được xây dựng và hoạt động như một đơn vị kinh doanh, tìm kiếm lợi nhuận từ cung cấp các dịch vụ GD-ĐT

 – Loại thứ hai là một tổ chức đứng ra nhận vận hành quản lý cơ sở GD-ĐT công và thu được “lợi nhuận” từ quản trị trường công. Trong loại thứ hai này cũng có hai hình thức:

Những trường hợp đồng (Contract schools): Các trường này hoạt động theo định hướng thị trường (Market – Oriented), có thu học phí.

Những trường ủy quyền (Charter schools): Những trường này không được thu học phí, kinh phí của trường được nhà trường cấp định mức theo đầu học sinh như trường công. Cơ chế hoạt động của trường định hướng theo nhiệm vụ được giao (Mission-Oriented).

Trên thế giới các cơ sở Giáo dục VLN được xây dựng và hoạt động ở tất cả các cấp học, bậc học; không những ở trong nước mà còn phát triển các chi nhánh, cơ sở ở nước ngoài.

 Đặc trưng cơ bản nhất của cơ sở  GD-ĐT VLN: Tính chất vì lợi nhuận của một cơ sở GD-ĐT là xét từ góc độ lợi ích của chủ đầu tư, hay chủ thể được giao quản lý vận hành cơ sở GD-ĐT, chứ không phải đơn thuần từ giác độ trường công hay trường tư và từ giác độ lợi ích người hưởng thụ dịch vụ GD-ĐT. Có loại trường VLN người học phải đóng học phí; có loại trường VLN người học không phải đóng học phí (trong trường hợp này thực chất là nhà nước đã bỏ tiền ra “mua” dịch vụ Giáo dục – Đào tạo để cung cấp miễn phí cho người học).

Các cơ sở GD-ĐT VLN trên thế giới vẫn tiếp tục phát triển với tốc độ cao, ví dụ ở Mỹ trong giai đoạn 1989-1999 số trường cao đẳng 2 năm vì lợi nhuận tăng 78%, còn số trường đại học 4 năm vì lợi nhuận tăng 266%.

II. Cơ sở Giáo dục không vì lợi nhuận

Cần nhận thức rõ bản chất kinh tế – xã hội của các đơn vị, tổ chức hoạt đông theo cơ chế KVLN. Về nguyên tắc các đơn vị này cũng phải cân đổi được thu – chi và có tích lũy để đầu tư phát triển. Khái niệm KVLN là nói về muối quan hệ giữa chủ đầu tư (nguồn vốn đầu tư) và việc phân chia – sử dụng phần lợi nhuận thu được từ hoạt động của đơn vị. Ở các cơ sở giáo dục hoạt động theo cơ chế KVLN lợi nhuận thu được không chia cho những chủ thể góp vốn (hay tài trợ). Đơn vị hoạt động theo cơ chế KVLN không có nghĩa là không có hoặc không tìm kiếm lợi nhuận, vấn đề chủ yếu nằm ở việc sử dụng lợi nhuận đó cho sự phát triển chung của đơn vị.

Tại các cơ sở giáo dục hoạt động KVLN, các nguồn vốn, thu nhập bất kỳ nào sau khi chi trả các chi phí hoạt động được giữ lại để đưa vào phát triển chương trình và các dịch vụ giáo dục mà không chia phần đó; nghĩa là không có bất kỳ lợi nhuận thương mại nào được mang chia cho các thành viên. Trong khi những tổ chức giáo dục VLN tạo ra lợi nhuận và tồn tại dưới tiền đề thu nhập và phân phối thu nhập kinh doanh và phải đóng thuế của các cổ động, thì tổ chức giáo dục KVLN tồn tại trước hết là để cung cấp các chương trình và các dịch vụ giáo dục vì lợi ích của người khác. Những tổ chức KVLN vẫn có mục đích và khả năng thu được lợi nhuận, và thặng dư được giữ lại để đầu tư phát triển và tiếp tục cung cấp các chương trình và dịch vụ giáo dục; thặng dư đó không do cá nhân nào làm chủ mà cũng không chia cho các cá nhân hoặc cổ đông. Như vậy có thể thấy :

1) Những cơ sở GD KVLN vẫn có mục tiêu tìm kiếm lợi nhuận, và thặng dư được giữ lại cho đầu tư phát triển; thặng dư đó không do riêng cá nhân nào làm chủ mà cũng không chia cho các cá nhân hoặc cổ đông. Ví dụ trường Đại học Harvard nổi tiếng của Mỹ là trường tư KVLN năm tài chính 2007 đã tạo ra lợi nhuận tới 23% từ việc sử dụng nguồn tài trợ 34,9 tỷ USD.

Trong nhiều quốc gia, tổ chức KVLN được miễn trừ thuế thu nhập và các thuế khác, các nhà tài trợ có thể được hoàn thuế thu nhập trên phần kinh phí tài trợ cho cơ sở KVLN.

2) Từ bản chất kinh tế – xã hội của cơ sở giáo dục KVLN , mà nguyên tắc cơ bản của cơ chế quản lý – quản trị của cơ sở này cũng khác với cơ chế quản lý – quản trị của cơ sở giáo dục VLN : một đằng là theo nguyên tắc tập thể – đối nhân (KVLN), một đằng là theo nguyên tắc đối vốn (VLN).

3) Xét từ giác độ tiêu chí lợi ích của người được hưởng dịch vụ của cơ sở giáo dục KVLN có thể phân ra làm 3 loại cơ sở giáo dục KVLN: Loại thứ nhất là các cơ sở giáo dục KVLN cung cấp các dịch vụ giáo dục – đào tạo miễn phí. Loại cơ sở này tồn tại và hoạt động hoàn toàn dựa trên nguồn kinh phí tài trợ của nhà nước, các tổ chức và cá nhân. Loại thứ hai là các cơ sở giáo dục KVLN có thu phí từ các dịch vụ cung cấp, nhưng ở mức thấp, chủ yếu để cân đối thu chi cho các hoạt động và không chia lợi nhuận (nếu có). Nguồn kinh phí hoạt động của các cơ sở này dựa vào sự tài trợ của nhà nước, các tổ chức, cá nhân và vào thu phí từ các dịch vụ (phí thấp). Loại thứ ba là các cơ sở giáo dục KVLN hoạt động có thu phí từ cung cấp các dịch vụ theo cơ chế thị trường (thu phí như các cơ sở vì lợi nhuận). Nhưng lợi nhuận thu được không chia cho bất kỳ ai, mà được giữ lại để đầu tư phát triển cơ sở, mở rộng và nâng cao chất lượng các dịch vụ. Loại thứ ba này cũng vẫn có thể nhận được kinh phí của nhà tài trợ; ví dụ một số trường đại học tư nổi tiếng trên thế giới như Harvard của Mỹ, Waseda của Nhật… thu học phí rất cao, nhận được tài trợ rất lớn của các nhà hảo tâm, nhưng vẫn là trường không vì lợi nhuận.

Như vậy, có thể thấy rằng cơ sở GD-ĐT KVLN không phải tất yếu là cung cấp các dịch vụ miễn phí hoặc phí thấp; không phải là không hoạt động theo cơ chế thị trường. Việc cung cấp các dịch vụ GD-ĐT miễn phí không phải là hệ quả tất yếu của việc cơ sở hoạt động theo cơ chế KVLN. Tiền đề cơ bản để hình thành và phát triển cơ sở GD-ĐT KVLN là phải có nguồn kinh phí đầu tư xây dựng và vận hành không vì lợi nhuận và không chia lợi nhuận (nếu có) của các nhà đầu tư (tài trợ).

III. So sánh giữa các cơ sở GD-ĐT VLN và KVLN

Điểm khác biệt cơ bản nhất giữa hai loại đó không phải là các cơ sở giáo dục đó có hoạt động theo cơ chế thị trường hay không, có tạo ra lợi nhuận hay không; và cũng không phải ở chỗ ai là chủ sở hữu, cơ sở đó có thu học phí hay không; mà chủ yếu là mục tiêu hoạt động, nguyên tắc sử dụng và phân chia lợi nhuận do cơ sở giáo dục tạo ra.. Đối với cơ sở VLN, mục tiêu là làm ra lợi nhuận và sử dụng lợi nhuận (hay chia) vì lợi ích của chủ đầu tư hay của người được uỷ quyền quản lý. Đối với cơ sở KVLN, lợi nhuận được làm ra (nếu có) không được sử dụng (hay chia) vì lợi ích của một cá nhân nào, mà để lại phát triển cơ sở GD-ĐT. Do có sự khác nhau về bản chất kinh tế và lợi ích kinh tế nên có sự khác nhau về cơ chế hoạt động, trách nhiệm kinh tế đối với nhà nước và các chủ thể liên quan khác (xem bảng 1).

Trong quá trình phát triển giáo dục trên thế giới, dưới sự tác động của kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế đang diễn ra sự kết hợp giữa các yếu tố vì lợi nhuận và không vì lợi nhuận, có tiếp cận thị trường và không tiếp cận thị trường trong các mô hình nhà trường cụ thể.

Nhiều nước châu Á đã có những chính sách ưu đãi về đất đai, thuế, tín dụng để khuyến khích phát triển mô hình trường tư KVLN và trường tư “bán vì lợi nhuận” (Semi-profit schools). Đây là một xu hướng rất đáng quan tâm. Vì trên thực tế, trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế ngày càng phát triển sâu rộng, ranh giới giữa mô hình trường hoạt động với kinh phí bao cấp của nhà nước và với nguồn thu từ cung ứng dịch vụ giáo dục – đào tạo theo cơ chế thị trường, giữa không vì lợi nhuận và vì lợi nhuận ngày càng đan xen vào nhau. Điều quan trọng nhất là chính sách của nhà nước đối với người học được đảm bảo công bằng và bình đẳng, nhất là đối với những người nghèo.

Trần Quốc Toản