Một số vấn đề về cơ chế tự chủ của các trường đại học

PGS.TS. Trần Quốc Toản

Hội đồng Lý luận Trung ương

 

Vấn đề tự chủ đại học đã được Việt Nam đặt ra trong những lần đổi mới giáo dục đại học từ những năm 2005; Ngày 24/10/2014, Chính phủ đã có Nghị quyết số 77/NQ-CP về thí điểm đổi mới cơ chế hoạt động của các cơ sở giáo dục đại học công lập, và trong giai đoạn 2014-2017, đã cho phép 23 cơ sở giáo dục đại học thí điểm đổi mới cơ chế hoạt động, nhưng đến nay cơ chế tự chủ đại học vẫn còn nhiều vấn đề cần chế định rõ ràng. Trung tâm Nghiên cứu Giáo dục đại học xin giới thiệu với bạn đọc bài viết của PGS.TS Trần Quốc Toản, Hội đồng Lý luận Trung ương về vấn đề này.

       

Vấn đề tự chủ của các cơ sở giáo dục – đào tạo nói chung, nhất là của các cơ sở giáo dục đại học, đã được đề cập trong các văn bản chính thức của Đảng và Nhà nước hơn mười năm. Như trong NQ – 14/2005 của Chính phủ năm 2005 về Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục đại học Việt Nam đã nêu rõ : “Trên cơ sở đổi mới tư duy và cơ chế quản lý giáo dục đại học, kết hợp hợp lý và hiệu quả giữa việc phân định rõ chức năng, nhiệm vụ quản lý Nhà nước và việc đảm bảo quyền tự chủ, tăng cường trách nhiệm xã hội, tính minh bạch của các cơ sở giáo dục đại học. Phát huy tính tích cực và chủ động của các cơ sở giáo dục đại học trong công cuộc đổi mới mà nòng cốt là đội ngũ giảng viên, cán bộ quản lý và sự hưởng ứng, tham gia tích cực của toàn xã hội”; “Chuyển các cơ sở giáo dục đại học công lập sang hoạt động theo cơ chế tự chủ, có pháp nhân đầy đủ, có quyền quyết định và chịu trách nhiệm về đào tạo, nghiên cứu, tổ chức, nhân sự và tài chính”; “Hoàn thiện chính sách phát triển giáo dục đại học theo hướng bảo đảm quyền tự chủ và trách nhiệm xã hội của cơ sở giáo dục đại học, sự quản lý của Nhà nước và vai trò giám sát, đánh giá của xã hội đối với giáo dục đại học”. Trong những năm gần đây, trong văn kiện Đại hội XI, Đại hội XII, trong Luật Giáo dục Đại học (2013) và một số văn bản dưới luật của Chính phủ đã nhấn mạnh và quy định rõ hơn những nội dung liên quan đến vấn đề cơ chế tự chủ của các trường đại học. Trên thực tế cơ chế tự chủ cũng đã được thực hiện ở những mức độ khác nhau trong một số trường đại học. Bên cạnh những kết quả tích cực đạt được cũng đang cho thấy nhiều vấn đề bất cập, thậm chí tiêu cực nảy sinh. Điều đó cho thấy rằng, về mặt chủ trương thực hiện cơ chế tự chủ của các trường đại học là đúng đắn và có sự nhất trí cao; nhưng đồng thời đang có những sự khác biệt cả về mặt nhận thức, sự bất cập và chưa phù hợp của một số quy định pháp lý, cơ chế, chính sách, và cả những bất cập, yếu kém, thậm chí sai lệch trong tổ chức thực hiện.

  1. Về mặt nhận thức

1.1. Nhận thức rõ hơn về bản chất và nội dung cơ chế tự chủ đối với các trường đại học là vấn đề quan trọng hàng đầu: Hiện nay trên thế giới có nhiều cách hiểu khác nhau về khái niệm tự chủ đại học tùy theo nhận thức về vai trò của Nhà nước đối với giáo dục nói chung và giáo dục đại học nói riêng. Một cách khái quát, có thể nêu lên một số khái niệm tự chủ đại học như sau:

       i). Tự chủ đại học là quyền của nhà trường được tự “điều hành” hoạt động của mình mà không bị kiểm soát từ bên ngoài; hay là sự “thoát ra khỏi” sự kiểm soát, hạn chế của các cơ quan quản lý nhà nước, của thị trường…đối với các hoạt động của trường đại học.

ii). Là quyền của các trường tự do đưa ra các quyết định về cách thức tổ chức hoạt động cũng như mục tiêu – sứ mạng của trường (do trường đặt ra).

iii). Là quyền của các trường được quyết định các phương tiện, cách thức để đạt đến mục tiêu đã được nhà nước xác định trước.

iv). Tự chủ đại học cũng có thể được xác định như là các quyền lực có điều kiện đối với các trường: các trường chỉ có thể có các quyền tự chủ nào đó trong hoạt động khi đã đạt được các chuẩn mực theo quy định của nhà nước.

v). Là sự độc lập ở mức cần thiết của nhà trường đối với các tác nhân can thiệp từ bên ngoài mà nhà trường cần có để có thể thực hiện được việc quản trị và tổ chức nội bộ; như tạo ra và sử dụng các nguồn tài chính ngoài ngân sách công, phân bổ các nguồn lực tài chính trong phạm vi nhà trường, tuyển dụng nhân sự, xây dựng các tiêu chuẩn cho học tập, đào tạo và nghiên cứu, và cuối cùng, là quyền tự do trong việc tổ chức thực hiện nghiên cứu và giảng dạy.

1.2. Các mô hình về cơ chế tự chủ

Các khái niệm – quan niệm trên có thể chứa đựng những nội hàm khác nhau, nhưng đều có nội dung chung về hai điểm là mối quan hệ giữa nhà nước với trường đại học và mức độ – điều kiện – khả năng của trường được tự chủ hoạt động để đạt được sứ mạng và mục tiêu đặt ra. Xét theo mối quan hệ pháp lý giữa nhà nước và trường đại học, Ngân hàng thế giới World Bank (năm2008) đã khái quát cơ chế tự chủ của các trường đại học trên thế giới theo bốn mô hình sau:

(1). Mô hình Nhà nước quản lý – kiểm soát hoàn toàn – “state control” (như ở các nước Châu Mỹ la tinh, Malaysia và một số nước khác);

(2). Mô hình bán tự chủ – “semi-autonomous”( như ở Pháp và New Zealand…);

(3). Mô hình bán độc lập – “semi-independent” (như ở Singapore và một số nước khác);

       (4). Mô hình độc lập – “independent” ( như ở Mỹ, Anh, Úc…)

Việc phân ra bốn mô hình đó cho thấy “mức độ” tự chủ của các trường đại học trong quan hệ với quản lý của nhà nước có sự khác nhau. Tuy nhiên sự phân loại đó chỉ mang tính chất tương đối, theo nghĩa không có sự kiểm soát tuyệt đối của nhà nước đối với các trường đại học, và ngược lại cũng không có sự độc lập tuyệt đối của trường đai học đối với sự quản lý của nhà nước. Trong mô hình Nhà nước kiểm soát thì cơ sở GDĐH vẫn có một mức độ tự chủ nhất định trong việc thực hiện nhiệm vụ chuyên môn, nghiệp vụ của mình; và trong mô hình độc lập thì nhà trường vẫn phải thực hiện các hoạt động theo những quy định của pháp luật và chịu trách nhiệm và trước nhà nước và sự kiểm soát của nhà nước về một số nội dung theo quy định của nhà nước.

1.3. Tính lịch sử khách quan của việc hình thành cơ chế tự chủ

Lịch sử ra đời và phát triển của các trường đại học trên thế giới đã trải qua mấy thế kỷ; và mối quan hệ giữa nhà nước và các trường đại học cũng có sự thay đổi và phát triển cùng với sự phát triển của kinh tế – xã hội, văn hóa, giáo dục, và sự phát triển của thể chế nhà nước. Nếu như trong giai đoạn ban đầu ra đời các trường đại học ở phương Tây, các trường đại học được coi như những “Tháp ngà tri thức”, “Ngôi đền tri thức”, “Thánh đường tri thức” với chức năng chủ yếu là sản sinh ra tri thức; hầu như có rất ít quan hệ trực tiếp đối với hoạt động của nhà nước và sự phát triển kinh tế – xã hội. Khi đó tính độc lập và tự chủ của các trường đại học có thể coi là rất cao. Khi trình độ phát triển kinh tế – xã hội được nâng cao lên nhiều hơn, chức năng của giáo dục, nhất là giáo dục đại học có sự thay đổi và phát triển về bản chất: giáo dục đại học không chỉ với chức năng sản xuất tri thức, nó đã thoát ra khỏi tháp ngà tri thức để trở thành một ngành – lĩnh vực sản xuất dịch vụ, đào tạo nhân lực, cung cấp công nghệ – kỹ thuật tiên tiến, cung cấp “đầu vào” cho mọi lĩnh vực và hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quản lý nhà nước…Giáo dục đại học đã liên quan và tác động hai chiều trực tiếp đến hoạt động và phát triển của tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Những xu thế phát triển khách quan này đã và đang đưa đến quá trình “điều chỉnh” và phát triển cơ chế tự chủ đại học theo hướng : Mô hình tự chủ hoàn toàn tiếp thu những yếu tố phù hợp và hiệu quả của sự quản lý nhà nước, gia tăng hơn sự can thiệp của nhà nước; ngược lại mô hình nhà nước quản lý tuyệt đối giảm dần sự can thiệp trực tiếp của nhà nước, tiếp thu những yếu tố phù hợp để trao quyền tự chủ nhiều hơn cho các trường đại học. Cả hai xu hướng đó đưa đến hình thành mô hình tự chủ đại học hợp lý và hiệu quả hơn, trong đó nhà nước chủ yếu đóng vai trò quản lý “giám sát – hướng dẫn”(State – Supervising model). Chính điều này đã đặt ra những nhận thức và yêu cầu mới về bản chất và nội dung khách quan của cơ chế tự chủ đại học. Đương nhiên việc áp dụng cụ thể ở mỗi nước sẽ phụ thuộc vào điều kiện, trình độ phát triển và truyền thống của mỗi nước.

1.4. Đối với Việt Nam, khi xem xét về cơ chế tự chủ đại học cần nhận rõ một số điều kiện có tính đặc thù chế định lẫn nhau như sau:

i) Trình độ phát triển của nền kinh tế – xã hội còn tương đối thấp

ii) Trình độ phát triển của nền giáo dục nói chung, nhất là giáo dục đại học còn thấp và không ít bất cập;

iii) Thể chế và trình độ quản lý nhà nước, quản trị xã hội, trong đó có quản lý –quản trị giáo dục nói chung, nhất là quản lý –quản trị giáo dục đại học còn tương đối thấp, còn nhiều bất cập, còn mang nhiều yếu tố quản lý – quản trị truyền thống.

iv) Nước ta vẫn đang còn trong giai đoạn tiếp tục đổi mới và hoàn thiện thể chế và cơ chế phát triển, trong đó có giáo dục, nhất là giào dục đại học; ảnh hưởng của cơ chế kế hoạch hóa tập trung quan liêu bao cấp còn khá nặng cả trong nhận thức, cơ chế chính sách và thực tiễn hoạt động (cả ở tầng vĩ mô và tầng vi mô là các cơ sở giáo dục).

v) Yêu cầu của quá trình đổi mới – phát triển đất nước và toàn cầu hóa – hội nhập quốc tế, trong đó có giáo dục, nhất là giáo dục đại học, đòi hỏi phải đổi mới mạnh mẽ thể chế phát triển giáo dục, trong đó có cơ chế tự chủ đại học, song phải có mô hình và bước đi phù hợp với điều kiện và trình độ phát triển của nước ta, đồng thời tiếp cận với những tiêu chí – chuẩn mực chung của quốc tế.

Chính vì những điều kiện trên mà việc chế định và thực thi cơ chế tự chủ đại học ở Việt Nam cần có nội dung và bước đi thích hợp.

Điều quan trọng đầu tiên là về mặt nhận thức cần khắc phục cả hai cách hiểu sai lệch về cơ tự chủ của các cơ sở giáo dục nói chung và của giáo dục đại học nói riêng : đó là quá nhấn mạnh một chiều đến “quyền” tự quyết định của các cơ sở giáo dục đại học mà không tính đến các điều kiện, trình độ, yêu cầu – trách nhiệm thực tế và khách quan bị chế định và tương tác với các chủ thể khác trong xã hội, nhất là Nhà nước; mặt khác lại có khuynh hướng vẫn muốn “quản chặt” từ phía các cơ quan quản lý nhà nước với nhiều lý do khác nhau, đồng thời cũng có những cơ sở giáo dục “ngại” phải thực hiện cơ chế tự chủ vì không dám chịu trách nhiệm và vẫn muốn được bao cấp và bảo trợ theo cơ chế cũ. Thậm chí còn có tư duy muốn được bao cấp kinh phí “đầu vào” nhiều hơn, nhưng được “tự chủ và quyền hạn” chi “đầu ra” cùng với quyền tự quyết định các hoạt động cao hơn.

2. Bản chất và nội dung của cơ chế tự chủ đại học

2.1. Bản chất

Trong bản chất cơ chế tự chủ đại học chứa đựng sự thống nhất và mâu thuẫn khách quan về rất nhiều phương diện (ở đây không đi sâu vào các yếu tố chủ quan), như : Mục đích của cơ chế tự chủ, các lợi ích của cơ chế tự chủ, động lực của cơ chế tự chủ, nội dung của cơ chế tực chủ, mô hình thể chế thực thi cơ chế tự chủ, điều kiện thực thi cơ chế tự chủ…của tất cả các chủ thể liên quan. Cần phải nhận thức rõ các nội dung trên mới có cơ sở để chế định cơ chế tự chủ đại học phù hợp và hiệu quả. Ở đây cần thấy rõ rằng trong cơ chế này không chỉ có hai chủ thể là nhà trường và nhà nước (nếu chỉ xem xét và phân định vai trò và chức năng giữa hai chủ thể này là không đủ); mà trên thực tế, nếu lấy nhà trường là chủ thể trung tâm của cơ chế tự chủ thì còn các chủ thể “ngoại diên” khác là nhà nước, xã hội (gồm nhiều chủ thể), và thị trường (cơ chế thị trường); đồng thời bản thân nhà trường (xét về cấu trúc nội bộ) cũng không phải là một chủ thể đồng nhất và đơn nhất, mà trong nhà trường có những chủ thể với những vị trí, vai trò, chức năng khác nhau, như : Hội đồng trường, Ban giám hiệu, các khoa – viện chuyên ngành và các đơn vị chức năng, đội ngũ giáo viên, đội ngũ sinh viên, các tổ chức chính trị – xã hội…Như vậy cơ chế tự chủ đại học cần phải được xem xét và chế định đồng bộ giữa cơ chế “bên ngoài” – tức cơ chế tương tác giữa nhà trường với các chủ thể khác, và với cơ chế “bên trong” – tức cơ chế tương tác giữa các chủ thể trong nhà trường. Có chế định được sự đồng bộ giữa cơ chế bên trong và cơ chế bên ngoài mới tạo được sự vận hành có hiệu lực và hiệu quả của trường, mới tạo được động lực phát triển đúng đắn và bền vững của trường.

Nhìn nhận một cách khái quát : Tự chủ đại học là một cơ chế đồng bộ – phù hợp nhằm tạo cho cơ sở giáo dục đại học là một đơn vị pháp lý gắn hữu cơ – thống nhất về quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm và lợi ích trong việc thực hiện các nhiệm vụ chuyên môn, tổ chức và nhân sự, huy động và sử dụng các nguồn lực…, tạo động lực cho sự phát triển bền vững và hiệu quả của cơ giáo dục đại học, thực hiện tốt nhất mục tiêu nâng cao chất lượng giáo dục đại học, đáp ứng yêu cầu phát triển của xã hội, đất nước và hội nhập quốc tế.

2.2. Nội dung chủ yếu của cơ chế tự chủ đại học:

Sau đây xem xét một số nội dung chủ yếu :

2.2.1. Xét về mục đích – mục tiêu của cơ chế tự chủ : Với tất cả các chủ thể liên quan như trên, rõ ràng mục đích – mục tiêu của cơ chế tự chủ sẽ có những nội dung mang tính nguyên tắc chi phối chung, có nững mục tiêu mang tính riêng đối với từng chủ thể. Về mặt nguyên tắc, các mục tiêu mang tính nguyên tắc chung sẽ chi phối các mục tiêu riêng của các chủ thể. Vậy mục đích – mục tiêu chung của cơ chế tự chủ đại học là gì ? phải chăng đó là một cơ chế tự chủ phù hợp – hiệu quả trong một thể chế phát triển giáo dục đại học được đổi mới, tạo động lực cho sự phát triển và nâng cao chất lượng nền giáo dục đại học, đáp ứng yêu cầu nguồn nhân lực trình độ cao của đất nước trong giai đoạn phát triển mới – phát triển theo chiều sâu, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, thích ứng với thể chế kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế. Như vậy, cơ chế tự chủ đại học phải là một yếu tố cấu thành hữu cơ của thể chế giáo dục đại học (được đổi mới), nhằm tạo động lực cho sự phát triển và nâng cao chất lượng giáo dục đại học. Có thể hiểu Thể chế tổng quát phát triển giáo dục – đào tạo Việt Nam trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế là: Nhà nước đóng vai trò chủ đạo kết hợp với cơ chế tự chủ của các cơ sở giáo dục – đào tạo và vai trò của xã hội, vận dụng phù hợp và hiệu quả cơ chế thị trường, đảm bảo cho giáo dục – đào tạo phát triển theo định hướng của Nhà nước, có hiệu quả và chất lượng cao, đáp ứng nhu cầu phát triển và hội nhập của đất nước trong giai đoạn mới, đảm bảo tốt hơn công bằng và bình đẳng xã hội trong giáo dục – đào tạo.

Mục đích – mục tiêu của quản lý nhà nước, tự chủ của nhà trường, vận dụng cơ chế thị trường, chế định vai trò của xã hội…đều bị chi phối bới mục đích – mục tiêu chung trên. Tuy nhiên, mục đích – mục tiêu cụ thể của từng chủ thể lại chứa đựng những nội dung khác nhau, có thể có xu hướng mâu thuẫn với các chủ thể khác, như đối với nhà nước, yêu cầu các trường đại học thực hiện cơ chế tự chủ phải tuân theo những quy định pháp lý của nhà nước, phải đảm bảo hướng vào thực hiện những mục tiêu đào tạo đại học của nhà nước (như về nội dung, chương trình đào tạo, chuẩn đào tạo, cơ cấu ngành nghề và trình độ đào tạo, chất lượng đào tạo…). Nhưng đối với các trường đại học thực hiện cơ chế tự chủ một mặt coi là điều kiện cần thiết để chủ động thực hiện các phương thức quản trị đại học tiên tiến nhằm cải tiến và nâng cao chất lượng đào tạo, nhưng mặt khác cũng có khuynh hướng tăng quy mô đào tạo, nhất là những ngành nghề chi phí đào tạo thấp, theo tâm lý thị trường, “chạy theo” mục tiêu cân đối thu – chi và tăng thu nhập, ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng đào tạo, phá vỡ quy hoạch đào tạo của quốc gia, không theo nhu cầu thực tế của xã hội (trong năm 2015 có tới hơn 220.000 cử nhân thất nghiệp đã nói lên điều này). Điều đó nói lên việc xác định mục đích – mục tiêu của cơ chế tự chủ đại học phải được xem xét kỹ lưỡng trong mối tương quan giữa các chủ thể liên quan, lấy mục tiêu phát triển nguồn nhân lực quốc gia trình độ cao – chất lượng cao của giáo dục đại học – đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong giai đoạn mới làm tiêu chí trung tâm của cơ chế tự chủ đại học.

2.2.2. Nội dung của cơ chế tự chủ và các chủ thể liên quan : Để thực hiện được mục tiêu trên, cần phải có sự “phân vai” hợp lý và hiệu quả giữa các chủ thể liên quan, nhất là giữa Nhà nước (các cơ quan quản lý giáo dục), xã hội và nhà trường về các nội dung của cơ chế tự chủ đại học. Nội dung của cơ chế tự chủ đại học có thể khái quát gồm những thành tố chủ yếu như sau:

a) Quyền hạn và trách nhiệm của Nhà nước đối với phát triển giáo dục nói chung và đối với các cơ sở giáo dục đại học.

b) Tự chủ của cơ sở giáo dục trong việc thực hiện các nhiệm vụ chuyên môn về giáo dục, đào tạo, nghiên cứu khoa học…

c) Tự chủ của cơ sở giáo dục trong việc xây dựng và thực hiện các nhiệm vụ về tổ chức, biên chế, nhân sự…

d) Tự chủ của cơ sở giáo dục trong việc xây dựng và thực hiện các nhiệm vụ về tài sản, tài chính…

đ) Trách nhiệm giải trình của cơ sở giáo dục đối với nhà nước và xã hội.

e) Vai trò và trách nhiệm của xã hội đối với cơ sở giáo dục và ngược lại.

Còn xét về phương diện nội bộ của cơ sở giáo dục, thì nội dung của cơ chế tự chủ phải được thể hiện ở thành tố chủ yếu sau:

a) Tính đồng bộ về quyền hạn, nghĩa vụ, trách nhiệm của nhà trường trước nhà nước và xã hội với tính cách là một đơn vị tự chủ.

b) Các nội dung và sự phân định hợp lý về quyền hạn, nghĩa vụ, trách nhiệm và cơ chế hoạt động giữa Hội đồng trường và Ban giám hiệu

c) Sự phân cấp hợp lý về quyền hạn, nghĩa vụ, trách nhiệm và cơ chế hoạt động giữa Ban giám hiệu và các đơn vị trực thuộc trong trường khi thực hiện cơ chế tự chủ.

d) Vai trò và trách nhiệm của Tổ chức Đảng trong nhà trường khi thực hiện cơ chế tự chủ.

đ) Quyền hạn, nghĩa vụ, trách nhiệm và lợi ích của đội ngũ cán bộ quản lý, đội ngũ giáo viên, đội ngũ những người lao động khác trong trường khi thực hiện cơ chế tự chủ.

e) Quyền, quyền hạn, lợi ích, nhĩa vụ, trách nhiệm của người học.

Cần thấy rằng các nội dung nêu trên trong cơ chế tự chủ đại học, có những nội dung là quyền tự chủ đương nhiên của một trường đại học, có nội dung là quyền tự chủ có điều kiện (nghĩa là quyền tự chủ đó phụ thuộc vào loại trường, điều kiện và trình độ phát triển cụ thể cụ thể của trường…khi trường có đủ các điều kiện đó, đồng thời phù hợp với chiến lược và quy hoạch phát triển của nhà nước). Chẳng hạn, nhà trường có toàn quyền tự chủ tổ chức thực hiện các nhiệm vụ giáo dục và đào tạo theo các quy định hiện hành; nhưng việc mở ngành mới hay tăng số lượng tuyển sinh về một ngành nào đó không chỉ căn cứ vào điều kiện của trường mà còn phải căn cứ vào nhu cầu của xã hội và quy hoạch đào tạo của nhà nước đối với cả nước trong từng giai đoạn. Hay vấn đề tự chủ phát triển học thuật (nước ngoài gọi là tự do học thuật) cũng có những phạm vi khác nhau giữa các trường (chương trình) đào tạo theo hướng hàn lâm và các trường (chương trình) đào tạo theo hướng ứng dụng – thực hành. Đối với các trường (chương trình) đào tạo theo hướng hàn lâm sẽ có không gian tự do học thuật rộng hơn, còn đối với các trường (chương trình) đào tạo theo hướng ứng dụng – thực hành không gian tự do học thuật còn được “chế định” và điều chỉnh một cách khách quan bởi “chuẩn” trình độ nhân lực – trình độ ngành nghề theo quy định của nhà nước, nhu cầu nhân lực của xã hội và hội nhập quốc tế. Đây là vấn đề cần được nghiên cứu kỹ để có những quy định phù hợp.

Cần nhận thức rõ là khi thực hiện cơ chế tự chủ (dù ở cấp độ nào) thì vấn đề quan trọng là phải chế định đồng bộ, hợp lý và hiệu quả giữa các nội dung về quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm và lợi ích của các chủ thể liên quan, nhất là giữa nhà trường với các chủ thể bên ngoài (kể cả nhà nước) với tư cách một đơn vị tự chủ; đồng thời nhà trường, về phía nội bộ, phải chế định đồng bộ, hợp lý và hiệu quả về quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm và lợi ích giữa các đơn vị và tất cả những người lao động trong trường gắn với kết quả và chất lượng hoạt động. Hiện nay có những nhận thức không đầy đủ và sai lầm khi thiên về “đòi quyền tự chủ” cho nhà trường trong quan hệ với nhà nước và xã hội, nhưng lại vẫn muốn và giữ cơ chế quản lý – quản trị trong trường theo cơ chế tập trung quan liêu bao cấp trước đây.

Đồng thời, một vấn đề quan trọng nữa là cần nhận thức rõ mối quan hệ hữu cơ giữa tự chủ thực hiện nhiệm vụ chuyên môn với tự chủ về tổ chức, biên chế, nhân sự, và với tự chủ về tài chính, gắn với trách nhiệm giải trình của một cơ sở giáo dục đại học. Trong cơ chế tự chủ này: tự chủ mang tính mục tiêu chi phối và định hướng phát triển phải là tự chủ thực hiện nhiện vụ chuyên môn theo những tiêu chí đặt ra; tự chủ về tổ chức, biên chế, nhân sự là điều kiện trực tiếp và phù hợp để thực hiện các nhiệm vụ chuyên môn đặt ra; còn tự chủ về tài chính là điều kiện để thực hiện có hiệu quả cả hai nội dung tự chủ trên. Nếu đặt quyền tự chủ về tài chính với những nội dung không đúng và ở vị trí ưu tiên cao hơn – chi phối và làm biến dạng tự chủ về thực hiện mục tiêu – nhiệm vụ chuyên môn là sai lầm. Hơn nữa, cũng là sai lầm khi xác định mức độ – quy mô – phạm vi – trình độ quyền tự chủ của một trường đại học căn cứ chủ yếu vào mức độ “tự lo” về tài chính (chi thường xuyên và chi đầu tư phát triển), để cho phép mở rộng tương ứng về quyền tự chủ thực hiện nhiệm vụ chuyên môn và quyền tự chủ về tổ chức, biên chế, nhân sự. Đối với một cơ sở giáo dục đại học, dù theo cơ chế tài chính nào thì yêu cầu tối thiểu để tồn tại bình thường và phát triển thì phải cân đối được thu – chi theo những tiêu chuẩn đã được xác định, dù nguồn thu của trường do nhà nước cung cấp hay từ các nguồn ngoài nhà nước. Cơ chế tự chủ về tài chính đối với một cơ sở giáo dục đại học công lập không phải chỉ nhằm chủ yếu vào mục đích giảm phần kinh phí nhà nước cấp cho trường và tăng phần tự thu của trường từ các nguồn khác (tới mức cao nhất là tự lo 100% kinh phí chi thường xuyên và chi đầu tư phát triển. Nếu ở mức như thế này thì bản chất của trường công lập (đầy đủ) đã thay đổi, rất cần được nghiên cứu kỹ vấn đề này). Sẽ là sai lầm khi coi cơ chế tự chủ về tài chính của nhà trường đồng nhất với cơ chế “tụ lo” về tài chính. Cơ chế tự chủ về tài chính còn có mục đích quan trọng là với tổng các nguồn thu của trường (phần của nhà nước cấp và phần huy động từ xã hội và người học…), nhà trường có quyền tự chủ và trách nhiệm sử dụng hiệu quả nhất theo những quy định chung của nhà nước và quy chế của trường nhằm đạt được những mục tiêu phát triển và nâng cao chất lượng giáo dục – đào tạo của trường. Về nguyên tắc, đối với trường công lập, nhà nước vẫn phải có trách nhiệm đảm bảo cung cấp phần kinh phí quan trọng; việc cung cấp phần kinh phí này tới mức nào, theo cơ chế nào và trách nhiệm của nhà trường đối với việc sử dụng phần kinh phí này như thế nào đối với một trường (hay loại trường) đại học cụ thể cần phải được nghiên cứu kỹ và xác định phù hợp. Ngay đối với các cơ sở giáo dục được Nhà nước “bao cấp” 100% kinh phí thì vẫn cần và có thể xây dung một cơ chế tự chủ về tài chính phù hợp và hiệu quả, đồng bộ với tự chủ về thực hiện nhiệm vụ chuyên môn và tự chủ về tổ chức, biên chế, nhân sự.

3. Tự chủ đại học – trách nhiệm giải trình của nhà trường và vấn đề Hội đồng Trường

Khi nhà trường được trao thẩm quyền và mức tự chủ lớn, thì vấn đề tất yếu đặt ra là cơ chế nào và ai kiểm soát “thực thi quyền lực” và giám sát kết quả – chất lượng hoạt động của nhà trường ? Do tính chất đặc thù của hệ thống giáo dục đại học, cơ chế đó chính là đổi mới quản lý nhà nước và sự tham gia giám sát của xã hội, gắn với chế định rõ trách nhiệm giải trình của các trường. Khi đó trách nhiệm giải trình là một chế định pháp lý quan trọng để kiểm soát thực thi quyền lực và giám sát hoạt động của nhà trường.

Trách nhiệm giải trình của một trường đại học phải được thể hiện ở cả ba nội dung tự chủ (về thực hiện mục tiêu và nhiệm vụ chuyên môn; về tổ chức biên chế và nhân sự; về tài chính) đối với các chủ thể “bên ngoài” là Nhà nước và xã hội, và đối với “bên trong” là các đơn vị trong trường, đội ngũ giáo viên và đội ngũ sinh viên…Trách nhiệm giải trình của một cơ sở giáo dục đại học có thể được hiểu khái quát là: Trách nhiệm về tính công khai, minh bạch trong các hoạt động của nhà trường về các nội dung tự chủ đối với cả “bên trong”  và “bên ngoài”; trách nhiệm về kết quả, hiệu quả, chất lượng các hoạt động và sản phẩm, dịch vụ do nhà trường cung cấp; trách nhiệm tuân thủ các quy định của Nhà nước và quy chế hoạt động của trường cả về thực hiện nhiệm vụ chuyên môn, tổ chức – biên chế – nhân sự, và về công tác tài chính. Điều đó nói lên là không nên đồng nhất và nhầm lẫn khái niệm “Trách nhiệm giải trình” với khái niệm “tự chịu trách nhiệm” của trường đại học. Có thể nói “Tự chủ đại học và trách nhiệm giải trình” là hai mặt thể hiện của cùng một thực thể cơ chế tự chủ đại học. Không thể có cơ chế tự chủ đại học có hiệu quả nếu chỉ nhấn mạnh một mặt nào đó và không được chế định đồng bộ với mặt kia. Bởi vì tự chủ của nhà trường phải được gắn với yêu cầu thực hiện được tốt trách nhiệm xã hội.

Vấn đề đặt ra là: Tại sao việc thực hiện cơ chế tự chủ – trách nhiệm giải trình của trường đại học lại gắn liền với sự ra đời của Hội đồng trường (HĐT) ?. Nếu như điều này ở các nước phát triển, nền giáo dục vận hành trong điều kiện kinh tế thị trường, thì tự chủ đại học gắn với Hội đồng trường như là sự đương nhiên; thì ở nước ta, mặc dù HĐT đã được chế định trong Luật giáo dục đại học, nhưng trên thực tế mới có rất ít trường đại học có HĐT, hơn nữa hoạt động của các HĐT hiện nay đang bộ lộ những bất cập, hiệu lực và hiệu quả chưa cao. Ở đây có vấn đề về nhận thức, có vấn đề về quy định pháp lý còn có những nội dung chưa phù hợp và đồng bộ, có vấn đề về tổ chức thực hiện…Thậm chí có không ít ý kiến cho rằng HĐT là không cần thiết, vì nó có những nhiệm vụ trùng lắp và cản trở việc thực thi nhiệm vụ của Ban giám hiệu (Hiệu trưởng – BGH). Tại sao lại như vậy ?! Cần phải làm rõ bản chất của vấn đề này. Trong lịch sử phát triển các trường đại học công lập trên thế giới, nhất là ở những nước thực hiện cơ chế quản lý hành chính tập trung bao cấp cao độ (như nước ta trước đây), các trường đại học do nhà nước đầu tư thành lập với tư cách là một đơn vị của nhà nước, và toàn bộ quá trình hoạt động do nhà nước quản lý và cấp kinh phí. Cơ chế vận hành của nhà trường về thực chất là thực hiện các nhiệm vụ, mục tiêu do nhà nước giao cho và bằng kinh phí của nhà nước; tất cả các hoạt động phải tuân theo các quy định, tiêu chuẩn do nhà nước ban hành. Bộ máy quản lý của nhà trường về thực chất là thực hiện các nhiệm vụ cấp trên giao và định kỳ báo cáo với cấp trên. Bản thân những người làm công tác quản lý nhà trường, đội ngũ giáo viên nhà trường đều hưởng lương do nhà nước trả (không phải do nhà trường trả từ kết quả hoạt động cung cấp dịch vụ của mình); những người học cũng dựa vào các nguồn lực bao cấp của nhà nước (dù có thể phải trả học phí nhưng thấp hơn nhiều so với chi phí thực) và khi ra trường có thể được nhà nước bố trí việc làm. Rõ ràng, trong một trường đại học với cơ chế hoạt động như vậy, mối quan hệ về lợi ích và trách nhiệm giữa các chủ thể về cơ bản – chủ yếu theo “một kênh” đối với nhà nước. Nhưng khi xã hội phát triển, nhất là trong điều kiện kinh tế thị trường, xã hội hóa và hội nhập quốc tế giáo dục đại học phát triển mạnh, mối quan hệ của trường đại học đối với xã hội và nền kinh tế trở nên rất đa dạng cả về nguồn lực đầu tư, sự tham gia của các doanh nghiệp, các tổ chức xã hội và mọi người dân vào phát triển giáo dục đại học, đặt ra những yêu cầu mới đối với giáo dục đại học, “đặt hàng” cho giáo dục đai học; bản thân người học cũng không còn theo sự phân công của nhà nước và ra trường cũng làm việc theo nhu cầu của thị trường lao động; trường đào tạo theo nhu cầu của xã hội; chi phí cho học tập trở thành một khoản “đầu tư” có mục đích của người học trả cho trường được lựa chọn vào học. Vai trò của Nhà nước đối với trường đại học đã thay đổi căn bản so với trước; nhà trường không thể phát triển nếu chỉ trông vào nguồn lực của nhà nước; sự phát triển của trường đại học có sự tham gia và chi phối trực tiếp và gián tiếp của nhiều chủ thể. Tất cả những thay đổi khách quan trên, đòi hỏi muốn phát triển trường đại học phải trở thành một đơn vị tự chủ, nhưng trong đó về phương diện lợi ích và trách nhiệm đã có sự ràng buộc của nhiều chủ thể cả về phía bên ngoài và bên trong: nhà nước, nhà trường, nhà đầu tư, các đối tác liên quan, bộ máy quản lý nhà trường, đội ngũ giáo viên (khi đó thu nhập không phải chỉ từ lương nhà nước trả mà còn từ kết quả hoạt động cung cấp dịch vụ của trường…). Chính sự ràng buộc về lợi ích và trách nhiệm giữa các chủ thể bên ngoài và bên trong liên quan đến định hướng phát triển của nhà trường, đầu tư phát triển của nhà trường, đến mục tiêu phát triển và nâng cao chất lượng – thương hiệu của trường, đến cơ chế phân bổ lợi ích giữa các chủ thể và thành viên…Đòi hỏi phải có HĐT thay mặt cho các bên có lợi ích liên quan, thay mặt cho xã hội và đại diện cho lợi ích công, để định hướng và giám sát hoạt động của bộ máy quản lý – điều hành nhà trường, đảm bảo cho trường phát triển với sự hài hòa lợi ích giữa các chủ thể và xã hội. Bản thân Ban giám hiệu của trường với chức năng và địa vị pháp lý của mình không thể có đủ thẩm quyền quyết định những vấn đề liên quan đến lợi ích và quyền của các chủ thể khác.

Có thể thấy, Hội đồng Trường là một cơ chế để thực hiện trách nhiệm cao nhất về chiến lược – định hướng phát triển và trách nhiệm giải trình của trường. Trên thế giới, Luật Giáo dục đại học ở nhiều nước xác định HĐT như cơ quan lãnh đạo cao nhất của nhà trường và có trách nhiệm giải trình trước Nhà nước và xã hội về kết quả hoạt động của trường. Quy mô và cơ cấu thành phần của HĐT không phải gồm chủ yếu những người trong nhà trường, mà gồm nhiều thành viên là người ngoài trường, không chỉ thuộc giới khoa học và giáo dục; mà gồm cả các thành viên của các bên liên quan như cơ quan quản lý nhà nước, các nhà sử dụng lao động, các doanh nghiệp, đại diện cha mẹ sinh viên, các chuyên gia về các lĩnh vực liên quan như quản trị giáo dục, luật sư, tài chính, đại diện các tổ chức xã hội liên quan… HĐT không can thiệp vào những việc cụ thể về quản lý – vận hành nhà trường, mà tập trung chủ yếu vào xem xét và phê chuẩn định hướng, chiến lược, kế hoạch phát triển của trường, giám sát các hoạt động quản lý của Ban giám hiệu theo quy định của luật pháp và theo quy chế của trường để bảo đảm rằng nhà trường thực hiện được đúng các mục tiêu đặt ra trong sứ mạng của mình. HĐT phải là người trung thành với lợi ích công theo sứ mạng của một cơ sở giáo dục và sự hài hòa về lợi ích và trách nhiệm giữa các chủ thể liên quan trên cơ sở coi lợi ích phát triển chung của nhà trường như một tổng thể hữu cơ của tất cả các chủ thể liên quan. Chính vì vai trò và tính chất của HĐT như vậy mà, ở các nước, hầu hết các thành viên HĐT không ăn lương của trường, họ cũng không được phép nhận bất cứ vị trí công việc ăn lương nào ở trong trường. Chính cơ chế HĐT như trên đã gắn tự chủ của nhà trường với trách nhiệm giải trình để không rơi vào tình trạng tự quyết – tự chịu trách nhiệm một cách tùy tiện vô nguyên tắc.

Vấn đề lớn và quan trọng đặt ra là cần phải phân định và chế định phù hợp vai trò, chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền và trách nhiệm giữa HĐT và Hiệu trưởng – BGH trong những điều kiện cụ thể, trình độ phát triển cụ thể, loại trường cụ thể; đảm bảo một sự hài hòa, hiệu lực và hiệu quả trong hoạt động của nhà trường, tránh để xảy ra những mâu thuẫn và “xung đột” giữa HĐT và BGH. Một trong những giải pháp mà các nước thực hiện là trao cho HĐT quyền tuyển chọn hay bãi miễn hiệu trưởng của trường. Ở Việt Nam, trong Luật giáo dục và trong Điều lệ trường đại học do Thủ tướng Chính phủ ban hành, HĐT không có quyền hạn gì trong việc bổ nhiệm hay miễn nhiệm Hiệu trưởng đại học; đây là điều cần được nghiên cứu kỹ.

Thực tiễn cho thấy ở một trường công lập với mức độ xã hội hóa thấp và sự tham gia của các chủ thể trong xã hội vào hoạt động và sự phát triển của trường ít, thì HĐT sẽ ít có tác dụng và mang nhiều tính hình thức.

Như trên đã trình bày, cơ chế tự chủ đại học không phải chỉ đơn giản là quy định quyền của cơ sở giáo dục đại học, mà là cơ chế chế định mối quan hệ tương hỗ về quyền, trách nhiệm, nghĩa vụ và lợi ích giữ các chủ thể liên quan bên ngoài và bên trong của trường, nhất là giữa nhà trường với nhà nước, xã hội, cơ chế thị trường; giữa nhà trường với đội ngũ giáo viên và người học…Tất cả những nội dung về các mối quan hệ trên cần được nghiên cứu và chế định phù hợp đối với điều kiện đang chuyển đổi cơ chế ở Việt Nam, phù hợp với tính chất và trình độ của mỗi loại trường.

4. Tính độc lập – khách quan của cơ quan kiểm định và sự tham gia của các tổ chức xã hội

Trong các ý kiến thảo luận ở Việt nam hiện nay thường hay đề cập tới “Các cơ quan kiểm định độc lập” và đó phải là một thiết chế dân sự, với hàm ý rằng chỉ các cơ quan kiểm định độc lập dân sự mới đảm bảo được tính khách quan của công tác kiểm định giáo dục đại học. Tuy nhiên trên thế giới hiện nay, xét một cách tổng quát, có ba loại mô hình tổ chức kiểm định: i) – Mô hình tổ chức kiểm định do các tổ chức xã hội (hiệp hội) đứng ra tổ chức song được các trường đại học chấp nhận và được nhà nước công nhận về mặt pháp lý, như ở Mỹ; ii) – Mô hình vừa có tổ chức kiểm định của nhà nước và vừa có tổ chức kiểm định của các tổ chức xã hội được nhà nước công nhận; iii) – Mô hình chỉ có tổ chức kiểm định của nhà nước, như ở một số nước châu Á. Vấn đề then chốt ở tất cả các mô hình đó là phải có chế định pháp lý đảm bảo tính hoạt động độc lập và khách quan của các tổ chức kiểm định, dù là thuộc sở hữu của ai hay do ai quản lý. Khi đó, Tổ chức kiểm định sẽ đánh giá một cách khách quan thực trạng nhà trường, hoạt động của nhà trường, kết quả hoạt động và sản phẩm của nhà trường dựa trên những tiêu chí công khai. Tổ chức kiểm định không có quyền hạn gì đối với nhà trường, việc kiểm định đối với nhà trường sẽ chỉ có được kết quả khách quan và chính xác khi nhà trường hoạt động công khai minh bạch và cung cấp các thông tin đó để thực hiện kiểm định. Do đó việc nhà trường “sẵn sàng” tham gia kiểm định một cách trung thực là một cách thực hiện trách nhiệm giải trình của mình. Như vậy, thực hiện kiểm định cũng là một cơ chế để nhà nước và xã hội biết rõ thực trạng và kết quả hoạt động của nhà trường, để từ đó có những “thái độ” và giải pháp phù hợp; đồng thời qua đó nhà trường biết rõ những mặt mạnh và chỗ yếu của mình một cách khách quan, để có những giải pháp cần thiết đổi mới, phát triển và nâng cao chất lượng giáo dục – đào tạo của trường. Thực tiễn trên thế giới cũng cho thấy rằng, chỉ có trường nào sẵn sàng gắn sự phát triển của mình với thực hiện trách nhiệm xã hội, đặt mục tiêu phát triển của trường gắn với “thương hiệu” chất lượng và tín nhiệm xã hội, không chạy theo bệnh thành tích và không đặt mục tiêu thương mại lên trên mục tiêu giáo dục thì mới tham gia kiểm định một cách khách quan và trung thực.

Từ những nhận thức chung mang tính nguyên tắc nêu trên, cần nghiên cứu xây dựng khung pháp lý về cơ chế tự chủ chung cho các trường đại học. Đồng thời căn cứ vào phân loại các trường đại học, tính chất và trình độ phát triển của từng trường đại học để xây dưng cơ chế tự chủ phù hợp đối với các trường đại học cụ thể. Trong đó cần chế định rõ quyền. quyền hạn, nghĩa vụ, trách nhiệm, lợi ích, trách nhiệm giải trình của tất cả các chủ thể liên quan. Ở đây xin nêu hai chủ thể chính là Nhà nước và Nhà trường.

5. Về vai trò của Nhà nước

Nhà nước cần tập trung thực hiện ba nhiệm vụ chủ yếu sau:

5.1. Hoàn thiện khung pháp lý và cơ chế, chính sách quản lý và phát triển hệ thống giáo dục đại học trong điều kiện phát riển kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế. Trong đó có cơ chế tự chủ của các trường đại học.

5.2. Tiếp tục tăng đầu tư của nhà nước gắn với đổi mới phương thức và cơ chế đầu tư của nhà nước cho phát triển giáo dục đại học phù hợp với xu thế chung của thế giới và điều kiện cụ thể của Việt Nam, nâng cao hiệu quả đầu tư. Hoàn thiện cơ chế, chính sách phù hợp để huy động các nguồn lực của của xã hội đầu tư cho phát triển giái dục đại học.

5.3. Xây dựng, hoàn thiện và chỉ đạo thực hiện có hiệu quả các cơ chế, chính sách xã hội trong giáo dục đại học đối với các đối tượng liên quan; đảm bảo công bằng, bình đẳng và tạo động lực lành mạnh – hiệu quả phát triển giáo dục đại học.

Để thực hiện tốt các nhiệm vụ chủ yếu trên, Nhà nước cần phải đổi mới mạnh mẽ cơ chế quản lý giáo dục đại học, tập trung vào ban hành hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách để quản lý nhà nước về sứ mạng, mục tiêu, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch định hướng phát triển giáo dục đại học, về quản lý chất lượng giáo dục đại học. Xây dựng cơ chế đại diện sở hữu nhà nước đối với các cơ sở giáo dục đại học công lập. Ban hành khuôn khổ pháp lý cho sự vận động và phát triển giáo dục đại học trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế;  Xây dựng khuôn khổ pháp lý và cơ chế, chính sách cho các cơ sở giáo dục – đào tạo đại học thực hiện cơ chế tự chủ; cơ chế, chính sách về đổi mới mô hình giáo dục đại học từ mô hình truyền thống sang mô hình nhà trường hiện đại – sáng tạo cho thế kỷ 21, theo hướng “Chuẩn hóa, hiện đại hóa, dân chủ hóa, xã hội hóa và hội nhập quốc tế”. Xây dựng cơ sở pháp lý và cơ chế bảo đảm điều tiết vĩ mô của nhà nước về cơ cấu và quy mô giáo dục đại học đáp ứng nhu cầu nhân lực của đất nước trong từng thời kỳ; bảo đảm vai trò kiểm tra, giám sát của cộng đồng; phát huy vai trò của các đoàn thể, tổ chức quần chúng, đặc biệt là các hội nghề nghiệp trong việc giám sát sự phát triển và chất lượng giáo dục đại học.

  1. Về vai trò tự chủ của các cơ sở giáo dục – đào tạo đại học

Cơ chế tự chủ của các cơ sở giáo dục – đào tạo nói chung, nhất là các cơ sở giáo dục – đào tạo đại học, được xây dựng và thực hiện đúng, phù hợp với đòi hỏi của thực tiễn là thể hiện tập trung sự kết hợp có hiệu quả vai trò quản lý của nhà nước với vận dụng phù hợp thể chế kinh tế thị trường trong lĩnh vực dịch vụ công đối với giáo dục – đào tạo, với đề cao tính trách nhiệm, năng động, sáng tạo của cơ sở giáo dục đào tạo. Đây cũng chính là một khâu trung tâm, then chốt đảm bảo cho giáo dục – đào tạo phát triển năng động, có hiệu quả, nâng cao chất lượng trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, vì chính các cơ sở giáo dục – đào tạo là nơi phải thực hiện các cơ chế chính sách, các giải pháp phát triển giáo dục một cách sáng tạo nhất, hiệu quả nhất, huy động và sử dụng có hiệu quả nhất các nguồn lực, phát huy được cao nhất nhân tố con người mà trước hết là đội ngũ giáo viên trong phát triển và nâng cao chất lượng giáo dục – đào tạo.

Đối với nước ta hiện nay, xây dựng và thực hiện cơ chế tự chủ còn nhằm tách quản lý nhà nước ra khỏi quản trị – vận hành của các cơ sở giáo dục – đào tạo. Để các cơ sở GD – ĐT được hoạt động theo cơ chế tự chủ, thể hiện ở những nội dung chủ yếu sau:

6.1. Phải đảm bảo định hướng, mục tiêu giáo dục – đào tạo toàn diện của Đảng và Nhà nước đề ra.

6.2. Hoàn thiện đồng bộ cơ chế tự chủ cả về 3 phương diện: Thực hiện nhiệm vụ chuyên môn; tổ chức, biên chế, nhân sự; cơ chế tài chính phù hợp với từng loại hình trường và trình độ phát triển cụ thể.

Trong thực hiện nhiệm vụ chuyên môn: Trên cơ sở các quy định chung của nhà nước, các trường được chủ động lựa chọn, đổi mới nội dung, chương trình, phương pháp giảng dạy, nghiên cứu… sao cho có chất lượng, hiệu quả, đáp ứng nhu cầu của xã hội; đảm bảo kết hợp có hiệu quả “dạy chữ, dạy người, dạy nghề”.  Xây dựng và thực hiện cơ chế tự do học thuật và tự chủ quản trị phù hợp với loại hình và trình độ của trường.

Về tổ chức, biên chế, nhân sự: Xây dựng, hoàn thiện, ban hành và thực hiện có hiệu quả quy chế Hội đồng trường (đối với trường công lập), Hội đồng quản trị (đối với ngoài công lập); xây dựng quy chế lựa chọn, bầu cử, đề bạt dân chủ, đúng người có năng lực, phẩm chất vào ban lãnh đạo và các cấp quản lý của trường; xây dựng cơ chế, quy chế tuyển chọn, luân chuyển, sử dụng, đãi ngộ… giáo viên có tính cạnh tranh.

Về cơ chế tài chính: Trên cơ sở quy định chung của nhà nước thực hiện tính đúng, tính đủ chi phí giáo dục – đào tạo (bao gồm cả nguồn của nhà nước, nguồn tài trợ của xã hội và nguồn từ cơ chế thị trường). Xây dựng và thực hiện tự chủ thu, chi, cân đối thu chi, có tích luỹ để phát triển. Tự chủ trong việc đầu tư phát triển, cơ chế chi phí giảng dạy (đào tạo) hợp lý, xây dựng và công khai mức học phí, gắn với trách nhiệm đảm bảo chất lượng giáo dục – đào tạo. Xây dựng cơ chế tài chính phù hợp đối với các loại trường hoạt động không vì lợi nhuận, vì lợi nhuận, đảm bảo kết hợp hợp lý, đúng đắn, có hiệu quả về mặt lợi ích giữa nhà nước, xã hội, nhà trường, giáo viên, người học, nhà đầu tư phù hợp với điều kiện và yêu cầu của nước ta. Xây dựng quy chế tự chủ trong việc trả lương cho giáo viên và cán bộ quản lý, nhân viên theo nguyên tắc gắn thu nhập với năng lực chuyên môn, kết quả và chất lượng giáo dục – đào tạo, kết quả hoạt động tài chính của trường nhằm khuyến khích, trọng dụng, phát triển đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý giỏi, trình độ cao.

Đối với các trường công lập, về tài chính cần nghiên cứu xây dựng và hoàn thiện cơ chế tự chủ với các cấp độ sau: Vẫn được nhà nước vẫn đảm bảo 100% kinh phí; Tự chủ – tự đảm bảo một phần kinh phí chi thường xuyên; Tự chủ – Tự đảm bảo 100% kinh phí chi thường xuyên; Tự chủ – tư đảm bảo 100% kinh phí chi thường xuyên và một phần chi đầu tư phát triển.

6.3. Xây dựng cơ chế quản trị nhà trường phù hợp, hiệu quả, theo hướng hiện đại. Vận dụng đúng đắn, hợp lý, có hiệu quả các nguyên tắc và công cụ về cung cấp hàng hóa dịch vụ công trong giáo dục và của cơ chế thị trường trong quản trị – vận hành nhà trường; thực hiện sự cạnh tranh lành mạnh, nâng cao chất lượng cung ứng hàng hóa dịch vụ giáo dục – đào tạo đại học. Thực hiện có hiệu quả các chính sách xã hội trong giáo dục – đào tạo đại học. Phải coi quản trị nhà trường là một nghề quan trọng có tính đặc thù, cần được đào tạo một cách bài bản, khoa học; thục hiện khoa học hóa, chuyên nghiệp hóa, dân chủ hóa quản trị cơ sở giáo dục – đào tạo đại học.

6.4. Thực hiện đầy đủ – công khai minh bạch trách nhiệm giải trình đối với các cơ quan quản lý nhà nước, người học, xã hội.

Để xây dựng được cơ chế tự chủ đại học phù hợp – hiệu quả, cần phải nghiên cứu sâu hơn về những vấn đề lý luận liên quan, nghiên cứu sâu và tiếp thu có luận chứng – có chọn lọc kinh nghiệm quốc tế, đồng thời rất quan trọng là phải căn cứ vào điều kiện cụ thể của Việt Nam, nghiêm túc rút kinh nghiệm những mặt được và chưa được qua các mô hình đã và đang thực hiện, để trên cơ sở đó xây dựng các mô hình tốt hơn và bước đi phù hợp.

       TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Văn kiện Đại hội Đảng CSVN khóa XI, khóa XII
  2. Nghị quyết số29-NQ/TW ngày 4/11/ 2013 của Hội nghị Trung ương 8 (khóa XI) về “Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trườngđịnh hướng XHCN và hội nhập quốc tế”
  3. Nghị quyết số 14/2005/NQ – CP ngày 02/ 11/ 2005 của Chính phủ về Đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục đại học Việt Nam giai đoạn 2006 – 2020
  4. Luật giáo dục năm 2005
  5. Luật giáo dục đại học năm 2012
  6. Nghị Định Số : 43/2006/NĐ-CP ngày 25/ 4/ 2006 của Chính phủ Quy định quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập.
  7. Quyết định của Thủ tướng Chính phủ số 70/2014/QĐ-TTg, ngày 10 tháng12 năm 2014, về ban hành Điều lệ Trường Đại học
  8. Nghị quyết số 77/NQ-CP ngày 24/10/2014 về thí điểm đổi mới cơ chế hoạt động đối với các cơ sở giáo dục đại học công lập giai đoạn 2014 – 2017
  9. Nghị định số16/2015/NĐ-CP ngày 14/ 02/ 2015 của Chính phủ quy định cơ chế tự chủ của đơn vị sự nghiệp công lập
  10. Fielden,J. (2008) Global Trends in University Governance. Education   Working Paper Series, number 9. Washington, D. C. http://siteresources.worldbank. org/EDUCATION/Resources/278200-1099079877269/547664109907